Những bài học về quản trị tài chính hiệu quả của PVN

07:00 | 18/03/2017

|
Thời gian qua, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) đã thành lập một tổ chuyên gia tài chính làm việc trực tiếp tại một số tổng công ty để hỗ trợ nâng cao năng lực tài chính, quản trị dòng tiền. Một số bất cập được thẳng thắn nhìn nhận, đúc kết ra nhiều bài học để phục vụ cho công tác điều hành của Hội đồng Quản trị, Hội đồng Thành viên, Tổng giám đốc tại các đơn vị được hiệu quả hơn. Phóng viên Báo Năng lượng Mới đã ghi lại những phát biểu của lãnh đạo cùng đại diện các đơn vị tham dự Hội nghị Nâng cao công tác quản trị tài chính doanh nghiệp. 

Chủ tịch HĐQT Tổng Công ty Phân bón và Hóa chất Dầu khí (PVFCCo) Lê Cự Tân: Hoàn thiện hệ thống quản trị tài chính

nhung bai hoc ve quan tri tai chinh hieu qua cua pvn

Tổng thể về quản trị tài chính, PVFCCo đã xây dựng được các quy định, quy chế về chính sách thuộc lĩnh vực tài chính kế toán, ban hành quy chế về quản lý tài chính, quy chế về quản lý vốn, quy chế về quản lý công nợ, quy chế về công tác hành chính, chi phí hành chính trong và ngoài nước, quy chế về sử dụng tài sản, trang bị, thiết bị văn phòng và quy chế chi tiêu nguồn vốn quỹ phát triển khoa học công nghệ.

Đồng thời, tổng công ty (TCT) cũng dựa trên kế hoạch để lập và kiểm soát kế hoạch ngân sách trên cơ sở chiến lược phát triển của TCT, đã xây dựng được và kiểm soát kế hoạch tài chính tổng thể về hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như triển khai toàn bộ hệ thống ERP trong công tác lập kế hoạch và dự báo. Trên cơ sở chiến lược phát triển của Tập đoàn, TCT đã xây dựng được kế hoạch vốn cũng như kế hoạch tài chính, kế hoạch dòng tiền tương ứng.

10 chủ đề trọng tâm trong chiến lược tăng trưởng trên nền tảng sử dụng vốn hiệu quả của PVN: Quản lý chi phí vốn; Danh mục đầu tư tối ưu; Triển vọng sản xuất; Các dự án trọng điểm; Cắt giảm chi phí; Chia cổ tức; Vốn lưu động; Các mục tiêu về dòng tiền; Xác định giá bán và Phát triển thị trường khí hóa lỏng.

Hiện tại, TCT đã thông qua hệ thống kế toán tài chính và áp dụng thành công hệ thống ERP từ năm 2011. Mọi số liệu về tài chính được quản trị, theo dõi thường xuyên, liên tục. Trong phân hệ này có 3 phân hệ, TCT đã triển khai liên quan đến quản lý và sản xuất, về vận tải giao nhận và báo cáo tài chính cũng như là chi phí. Riêng phân hệ kế hoạch sẽ nghiên cứu triển khai trong năm nay.

Để thực hiện tốt công tác quản trị, PVFCCo đã triển khai bộ máy kế toán quản trị dựa trên cơ sở Quyết định 605 của Tập đoàn quy định và quyết định về kế toán quản trị với nhiệm vụ và nội dung theo như báo cáo cụ thể. Nhiệm vụ của kế toán quản trị bao gồm thu thập tất cả các số liệu và thông tin, số liệu kế toán theo phạm vi được kế toán quản trị của TCT và các đơn vị xác định theo từng thời kỳ. Đồng thời kiểm tra, giám sát định mức tiêu thụ, các tiêu chuẩn dự toán. Hiện tại, PVFCCo đã xây dựng định mức liên quan đến tiêu hao năng lượng nhà máy, liên quan đến vấn đề bảo dưỡng, vận hành định kỳ thường xuyên cũng như phần khoán các chi phí liên quan hằng ngày. Những phạm vi và nội dung báo cáo trên theo định kỳ đã được Ban Kiểm toán nội bộ cũng như Ban Tài chính kế toán tổng hợp và báo cáo cho HĐQT để trước khi ra quyết định có những điều chỉnh để Ban Điều hành thực hiện.

Về hàng tồn kho, PVFCCo đã xây dựng các hệ thống phân phối theo định mức, kiểm soát được trị số tồn kho giảm qua từng năm. Về công nợ, TCT đã ban hành các định mức về công nợ đối với mặt hàng phải thu đặc biệt với hàng tự doanh, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát công nợ, hạn chế bán định mức vượt công nợ, giảm rủi ro về tài chính. Phần này cũng có các báo cáo kiểm tra định kỳ.

nhung bai hoc ve quan tri tai chinh hieu qua cua pvn

Đối với quản lý dòng tiền và vốn, TCT thực hiện chặt chẽ quản lý, kiểm soát dòng tiền, cân đối vốn đầu tư, điều hành sử dụng đồng vốn hiệu quả, xây dựng kế hoạch vốn tổng thể, vốn lưu động từ việc quản lý các chi phí tồn kho đến việc sử dụng nguồn vốn và các tổ chức tín dụng song song. Riêng đối với việc quản lý đồng vốn bằng tiền mặt, TCT đã ban hành các định mức, đánh giá xếp hạng các ngân hàng cũng như các lợi nhuận mang lại làm cho đảm bảo hiệu quả tối đa nhất cho TCT.

Về đầu tư xây dựng cơ bản, PVFCCo luôn bám sát theo tiến độ và thực hiện giải ngân theo quyết toán, đồng thời tiến hành rà soát điều chỉnh những danh mục phù hợp với chiến lược của mình. Đối với TCT, dự án lớn nhất trong thời gian vừa qua là nâng cấp tổ hợp NH3 NPK đến hiện tại TCT đã giải ngân được 1.500/4.500 tỉ đồng. Đồng thời thực hiện đầy đủ các báo cáo giám sát, đánh giá đầu tư theo quy định.

Về phần đề nghị, liên quan đến thuế VAT hoàn đầu vào đối với vật liệu sản xuất phân đạm, TCT đã báo cáo Quốc hội, Bộ Công Thương và Bộ Tài chính xin mong muốn được hoàn thuế. Đồng thời mong muốn các đơn vị trong Tập đoàn cũng như lãnh đạo Tập đoàn chỉ đạo các đơn vị cung cấp nguồn khí ổn định và giá cả hợp lý để TCT hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình.

Phó tổng giám đốc Tổng Công ty Khí Việt Nam - CTCP (PV GAS) Phạm Đăng Nam: Tối ưu hóa chi phí sản xuất kinh doanh

nhung bai hoc ve quan tri tai chinh hieu qua cua pvn

Trải qua 26 năm hình thành phát triển, PV GAS đã đạt được nhiều thành công nhất định. Trong những thành công đó, công tác quản lý tài chính đã đóng góp một phần không nhỏ cho thành công chung của TCT. Công tác tài chính kế toán và những người làm công tác tài chính kế toán đã tư vấn, giúp việc hiệu quả cho HĐQT và Ban Tổng giám đốc trong việc cân đối vốn đầy đủ, sử dụng vốn linh hoạt, an toàn, hiệu quả và xây dựng kế hoạch, chiến lược tài chính làm nền tảng cho sự phát triển của doanh nghiệp. Đồng thời giúp cho lãnh đạo TCT kiểm soát được toàn bộ hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp về góc độ tài chính và chi phí.

Liên quan đến công tác quản lý tài chính, PV GAS rất quan tâm đến công tác xây dựng hành lang pháp lý, triển khai, tuân thủ các quy định toàn diện, triệt để, đồng thời xây dựng một khung pháp lý đầy đủ và chặt chẽ làm nền tảng cho các hoạt động về tài chính. PV GAS đã xây dựng đầy đủ các quy chế, quy trình như quy chế quản lý vốn, quy chế quản lý nợ, quy chế bảo dưỡng sửa chữa… Các quy chế này được xây dựng căn cứ trên các quy chế của Tập đoàn và thực tế hoạt động của TCT.

PV GAS cũng có những quy định chi tiết về quản lý hàng tồn kho, quy định về đánh giá, xếp loại các tổ chức tín dụng để tiến hành giao dịch, quy định về kế toán quản trị… PV GAS đã xây dựng được hệ thống báo cáo quản trị định kỳ, xuyên suốt từ các đơn vị lên đến TCT và đang trong quá trình nghiên cứu để chuẩn bị triển khai các giải pháp quản trị, đã xây dựng được quy trình thanh toán, quy trình cấp vốn, quy trình lập kế hoạch… Các quy định này làm rõ trách nhiệm của từng bộ phận, đơn vị đầu mối trong việc phối hợp công việc, thời hạn phải hoàn thành. TCT đã xây dựng và ban hành hệ thống định mức kinh tế kỹ thuật để quản lý các chi phí. Hệ thống này được xây dựng căn cứ trên các quy định, quy chế, nghị định, tiêu chuẩn của Nhà nước đối với hệ thống thiết bị chuyên biệt, quy định về an toàn môi trường, an toàn sức khỏe, an toàn lao động và phòng cháy chữa cháy.

PV GAS đã ban hành định mức kinh tế kỹ thuật cho công tác bảo dưỡng sửa chữa hệ thống công trình khí, xây dựng các định mức chi phí quản lý trong TCT. Đến nay các định mức này liên tục được cập nhật và hoàn chỉnh. Song song với việc xây dựng các hành lang pháp lý, các quy định, quy trình, biểu mẫu này thì PV GAS đã thực hiện các quy định này một cách xuyên suốt và có hiệu quả, được sự quan tâm từ các cấp lãnh đạo. HĐQT và Ban Tổng giám đốc có những cuộc giao ban định kỳ và theo từng mảng công tác, giao ban về công tác tài chính kế toán mỗi quý một lần. Trong hệ thống kế toán sẽ có các buổi họp ngắn hạn hơn tùy vào tính cần thiết.

Trong thời gian vừa qua, TCT vẫn duy trì nếp sinh hoạt thường xuyên về xây dựng kế hoạch dòng tiền hằng tháng, hằng quý, hằng năm và gửi đến lãnh đạo TCT để theo dõi, điều hành. PV Gas có lượng tiền nhàn rỗi nên việc lập được kế hoạch dòng tiền cụ thể theo từng tháng sẽ giúp cho TCT có thể cân đối, cấp vốn cho các đơn vị một cách hài hòa nhất, bảo đảm thu chi. Đồng thời căn cứ trên dòng tiền này PV Gas chỉ để lại một lượng tiền vừa đủ cho hoạt động sản xuất kinh doanh, phần còn lại đem gửi với mức lãi suất khung cao nhất trong kỳ hạn ngắn tại các ngân hàng uy tín hoặc tiến hành chào giá cạnh tranh để gửi tại các ngân hàng cao nhất.

Các hoạt động này trong thời gian vừa qua đã giúp thu nhập tài chính của TCT đóng góp một số lượng lớn vào trong thu nhập của TCT. Hoạt động quản trị tài chính trong thời gian vừa qua của TCT rất quan tâm đến việc xây dựng thường xuyên cập nhật chiến lược trung, dài hạn của TCT để có phương án cân đối vốn phù hợp. PV GAS có nhiều chiến lược cân đối vốn dài hạn, trong các kế hoạch cân đối vốn đó, PV GAS theo dõi và cập nhật toàn bộ các dự án của toàn TCT. Đồng thời ngoài các dự án đang triển khai đã có lịch thanh toán, TCT cũng căn cứ vào chiến lược dài hạn và kế hoạch 5 năm của TCT để cập nhật kế hoạch tài chính cho phù hợp cho từng dự án. TCT mong muốn trong thời gian tới Tập đoàn sẽ có những hướng dẫn chỉ đạo sát sao để PV GAS có thể hòa chung vào hệ thống quản trị và tiến tới việc quản trị bằng ERP trong tương lai.

Kế toán trưởng Tổng Công ty Thăm dò và Khai thác Dầu khí (PVEP) Đinh Văn Đức: Cần điều chỉnh chính sách cho thăm dò khai thác dầu khí

nhung bai hoc ve quan tri tai chinh hieu qua cua pvn

Trong năm qua, giá dầu giảm rất sâu, các công ty dầu khí đã nỗ lực ứng phó bằng cách cắt giảm chi phí đầu tư, dịch vụ, tối ưu hóa dòng tiền, giảm nhân sự. Trước thách thức như vậy, PVEP đã triệt để tiết giảm chi phí trên các mặt hoạt động để đảm bảo hoạt động tối ưu như thăm dò, phát triển khai thác trong phạm vi hoạt động tài chính để đảm bảo dòng tiền, để TCT hoạt động hiệu quả. Thành công của chúng tôi trong năm qua là cân đối được dòng tiền, hoàn thành vượt mức các chỉ tiêu quan trọng về gia tăng trữ lượng và khai thác dầu khí.

Năm 2017, chúng tôi dự báo giá dầu vẫn thấp và kéo dài, PVEP tiếp tục phải đối mặt với nhiều khó khăn thách thức. Trước đây khi giá dầu cao, những bất cập về cơ chế chưa lộ diện, đến khi giá dầu thấp bắt đầu bộc lộ 3 điểm: Thứ nhất, thiếu nguồn vốn cho tìm kiếm thăm dò. Hoạt động tìm kiếm thăm dò có mức độ rủi ro rất cao, chi phí cao nhưng chúng tôi lại không tìm được nguồn vay. Từ đó PVEP phải sử dụng vốn của mình nhưng chúng tôi vẫn chưa có nguồn phù hợp. Hoạt động tìm kiếm thăm dò được sử dụng quỹ tìm kiếm thăm dò, nhưng theo Quyết định 143 của Chính phủ thì những vùng nước sâu xa bờ thì được sử dụng còn các dự án không đủ điều kiện lại không được dùng. Đề xuất chúng tôi là mở rộng quỹ tìm kiếm thăm dò.

Thứ hai, hoạt động tìm kiếm thăm dò là hoạt động rủi ro cao, vậy cơ chế xử lý rủi ro như thế nào? Đây là việc rất quan trọng cần phải có một cơ chế rõ ràng, minh bạch để PVEP xử lý các dự án còn tồn đọng. Chúng tôi xin được đề xuất như sau, các dự án không thành công thì cho phép phân bổ 1-5 năm vào chi phí, tùy theo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị thì PVEP sẽ được xử lý. Từ đó, Tập đoàn xử lý một phương án tổng thể cho phép phân bổ chi phí vào những năm sau. Kiến nghị của chúng tôi, khi xảy ra rủi ro trong tìm kiếm thăm dò dầu khí cần cấp quyền cho PVN để xử lý ngay, bởi càng xử lý nhanh bao nhiều thì hệ quả chi phí mất đi trong thăm dò dầu khí càng giảm thiểu.

Một vấn đề nữa là thuế thu nhập doanh nghiệp của PVEP. Hiện nay, chúng tôi đang chịu thu thuế theo hợp đồng dầu khí, khi tiến hành thu theo hợp đồng thì không liên quan đến hoạt động kinh doanh của PVEP. Thuế này không phải chỉ một mình PVEP nộp mà cả nộp cùng với các đối tác liên doanh. Thuế này có thể lên tới 30-40%, dẫn tới lợi nhuận sau thuế là âm, mặc dù trước thuế vẫn có lãi. Chính vì vậy PVEP đề xuất có cơ chế hỗ trợ tương đương để PVEP có thể nộp như các doanh nghiệp bình thường.

Thành Công - Hiền Anh

Đánh giá rủi ro và đặc thù ngành để quản trị tốt hơn

Ngày 10-3, tại thành phố Đà Nẵng đã diễn ra Hội thảo Nâng cao công tác quản trị cho các doanh nghiệp khâu sau Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) trong giai đoạn cạnh tranh và hội nhập.

Phát biểu tại hội thảo, Phó tổng giám đốc PVN Lê Mạnh Hùng cho biết, trong ngành Dầu khí, các doanh nghiệp khâu sau có đặc thù: Thứ nhất là quy mô tài sản lớn. Có thể kể đến Nhà máy Lọc dầu Dung Quất có giá trị hơn 3 tỉ USD, Nhà máy Đạm Phú Mỹ là hơn 340 triệu USD, Đạm Cà Mau khoảng 700 triệu USD; Thứ hai là công nghệ kỹ thuật hiện đại và hết sức phức tạp; nguồn nhân lực được đào tạo có trình độ cao; Cuối cùng là các đơn vị khâu sau có mối liên hệ chặt chẽ với thị trường năng lượng, đặc biệt là dầu thô và khí thiên nhiên và chính điều này làm cho các đơn vị khâu sau chịu tác động lớn bởi sự biến đổi công nghệ và môi trường.

“Vì vậy, muốn nâng cao công tác quản trị và phát triển bền vững, các đơn vị khâu sau của ngành Dầu khí cần đánh giá những đặc thù này để có giải pháp riêng biệt, bên cạnh các giải pháp quản trị doanh nghiệp nói chung”, Phó tổng giám đốc Lê Mạnh Hùng nhấn mạnh.

Theo Trưởng ban Chế biến Dầu khí PVN Lê Xuân Huyên, doanh thu, lợi nhuận lĩnh vực chế biến dầu khí chiếm tỷ trọng lớn trong tổng doanh thu, lợi nhuận của PVN. Cụ thể, năm 2011 là 18%, năm 2013 là 22,4%; năm 2015 là 30%, năm 2016 là 38%. Điều này đòi hỏi năng lực quản trị lớn và hợp lý đối với lĩnh vực này. PVN đã đề ra các giải pháp là tập trung công tác quản trị, áp dụng các công nghệ, ứng dụng đồng bộ trong quản trị (ERP, RBI, Shell, Mesc…); đẩy mạnh nghiên cứu phát triển, đa dạng sản phẩm, tiết giảm chi phí. Đồng thời, đào tạo, quy hoạch cán bộ có trình độ cao. Cuối cùng, xây dựng kế hoạch chi tiết, giao nhiệm vụ cụ thể, giám sát, quyết liệt trong đẩy nhanh các dự án.

Tham luận tại hội thảo, Tổng giám đốc BSR Trần Ngọc Nguyên cho rằng, BSR đã và đang phát triển mạnh khâu hóa dầu, trọng tâm là sản phẩm polypropylene; định hướng của công ty là xuất khẩu các sản phẩm xăng dầu. Đồng thời đẩy nhanh quá trình IPO để nâng cao năng lực tài chính; kiểm soát tồn kho, tỷ giá.

PGS.TS Vũ Minh Khương là người có nhiều năm nghiên cứu về Singapore, có nhiều nét tương đồng với Việt Nam nên có thể áp dụng nhiều phương pháp của họ vào việc quản trị tại Việt Nam. Theo PGS.TS Vũ Minh Khương, Singapore đã biến những điểm bất lợi như tài nguyên, diện tích, dân số... trở thành lợi thế nhờ tầm nhìn từ Chính phủ. Điều đó có thể áp dụng ở Việt Nam như nên biến Nghi Sơn thành trung tâm lọc hóa dầu, hóa chất cung cấp cho cả vùng Đông Nam Á. “Hội nhập trong ngành Dầu khí là mệnh lệnh sống còn, nên nắm bắt ngay. Nên biến Việt Nam là điểm tựa để thế giới đến đây khai thác sự bùng nổ ở châu Á”, PGS.TS Vũ Minh Khương nhận định.

TS Võ Trí Thành, chuyên gia kinh tế, nguyên Viện phó Viện Phát triển Kinh tế Quốc gia cũng chia sẻ kinh nghiệm về việc triển ngành hóa dầu ở Việt Nam. Theo TS Võ Trí Thành, năng lượng có 2 vấn đề đặc thù là chính trị và an ninh quốc gia. Ông cho biết thêm, thời gian tới xu hướng năng lượng sạch sẽ lên ngôi. Nhu cầu năng lượng cũng tăng cấp số cộng và số nhân. Bài toán cho các doanh nghiệp PVN là cần thấm nhuần chiến lược hội nhập của Việt Nam là mở rộng thị trường, mở rộng sản phẩm, tăng cường bạn hàng, tăng cường kết nối giữa các nhà máy và được tự chủ.

Nguyễn Thanh Hiếu