![]() |
Năm 2026, đánh dấu chặng đường 65 năm truyền thống Petrovietnam, cũng gắn với những một cột mốc đặc biệt: Kỷ niệm 45 năm thành lập Liên doanh Việt - Nga Vietsovpetro (1981 - 2026) và 40 năm khai thác tấn dầu thương mại đầu tiên (1986 - 2026). Để giúp độc giả hiểu rõ hơn về những cột mốc huyền thoại này, chúng tôi đã có cuộc trò chuyện với ông Ngô Thường San, nguyên Tổng Giám đốc Petrovietnam, nguyên Tổng Giám đốc Vietsovpetro, người đã đồng hành cùng những bước đi đầu tiên của ngành và là chứng nhân lịch sử cho “kỳ tích” khơi nguồn dầu khí quý giá cho Tổ quốc.
![]() |
PV: Thưa ông, để hiểu được trọn vẹn giá trị của một sự kiện hay một công trình lịch sử, chúng ta cần đặt nó vào đúng tọa độ của thời gian. Nhìn lại cột mốc năm 1981 khi Vietsovpetro được thành lập, bối cảnh đất nước lúc bấy giờ hiện lên trong tâm trí ông như thế nào?
Ông Ngô Thường San: Gắn liền với sự ra đời của Vietsovpetro những năm đầu thập niên 80 là một nền kinh tế Việt Nam cực kỳ gian khó, gần như kiệt quệ. Chúng ta vừa bước ra khỏi cuộc chiến tranh chống Mỹ tàn khốc năm 1975 thì ngay sau đó lại rơi vào thế bị bao vây cấm vận, đồng thời phải căng mình chiến đấu với cuộc chiến tranh ở hai đầu biên giới kéo dài suốt cho đến thập niên 90.
Trong nước, lạm phát phi mã lên tới hai, ba con số; khủng hoảng năng lượng và lương thực trầm trọng. Giữa thời điểm ngặt nghèo ấy, Đảng và Nhà nước đã đưa ra một quyết sách mang tính lịch sử: Phải tìm ra dầu và lấy dầu khí làm động lực phát triển, quyết tâm xây dựng bằng được một nền công nghiệp dầu khí độc lập, tự chủ để làm đòn bẩy tái thiết quốc gia.
![]() |
Đó là một nỗ lực phi thường dựa trên một niềm tin mãnh liệt. Nhưng niềm tin ấy cũng đầy rủi ro và cần thời gian để chứng minh. Lúc đó, chúng ta phải bắt đầu từ con số 0 tròn trĩnh với một câu hỏi cân não đặt ra cho các nhà lãnh đạo và toàn ngành: “Nếu không tìm thấy dầu thì sao? Đất nước sẽ đi về đâu?”. Chính trong bối cảnh đó, Xí nghiệp Liên doanh dầu khí Việt - Xô (nay là Liên doanh Việt - Nga Vietsovpetro) đã được thành lập trên cơ sở Hiệp định liên Chính phủ giữa Việt Nam và Liên Xô được ký kết ngày 19/6/1981. Ngày 19/11/1981, Vietsovpetro chính thức đi vào hoạt động và bắt tay vào công tác nghiên cứu tài liệu địa chất - địa vật lý, xây dựng chiến lược và chương trình tìm kiếm – thăm dò dầu khí ở thềm lục địa Nam Việt Nam. Việc thành lập Xí nghiệp Liên doanh Vietsovpetro, tìm ra dầu và đưa dòng dầu thương mại vào khai thác đã vực dậy nền kinh tế, giúp đất nước thoát khỏi khủng hoảng. Đặt trong bối cảnh ngặt nghèo như vậy, chúng ta mới thấy hết được tầm vóc và ý nghĩa vĩ đại của cột mốc này.
![]() |
PV: Lúc đó, tại sao chúng ta lại quyết định lựa chọn liên doanh với Liên Xô, thưa ông?
Ông Ngô Thường San: Sau năm 1975, chúng ta cũng đã chủ động mở rộng hợp tác với các công ty tư bản để tìm dầu, nhằm phá vỡ thế bao vây cấm vận. Nhưng đến các năm 1977, 1978, 1979, Mỹ tăng cường cấm vận, tìm mọi biện pháp ép các công ty này rút lui, hòng làm kinh tế ta kiệt quệ. Trong bối cảnh đó, việc bắt tay với Liên Xô để thành lập Vietsovpetro là một lựa chọn lịch sử mang tính tất yếu.
Sự lựa chọn này bắt nguồn từ mối quan hệ truyền thống giữa hai nước, đặc biệt là từ tầm nhìn định hướng chiến lược của Bác Hồ. Ngày 23/7/1959, khi đến thăm Khu công nghiệp dầu khí Baku của Azerbaijan (thuộc Liên Xô cũ), Bác đã nói với các nhà lãnh đạo bạn: Sau khi Việt Nam kháng chiến thắng lợi, đất nước hòa bình lập lại, Liên Xô phải giúp Việt Nam xây dựng những khu công nghiệp dầu khí mạnh như Baku.
Khi hợp tác thành lập Vietsovpetro, chúng ta đã tiếp thu mô hình trung tâm công nghiệp của Baku, từ cơ cấu tổ chức cho đến quy trình công nghệ. Mục tiêu nhất quán là phải xây dựng cho được một nền công nghiệp dầu khí độc lập, tự chủ chứ không lệ thuộc. Bởi chỉ có độc lập, tự chủ thì ngành dầu khí mới phát huy hết vai trò và đóng góp to lớn cho đất nước. Hiệp định năm 1981 chính là sự tiếp nối nhằm hiện thực hóa tầm nhìn và ước nguyện của Người.
![]() |
PV: Vạch xuất phát của chúng ta lúc đó gần như là một con số 0 tròn trĩnh. Ông có thể chia sẻ về những ngày đầu gian khó ấy?
Ông Ngô Thường San: Đúng vậy, chúng ta bắt đầu từ con số 0 đúng nghĩa: không cơ sở vật chất hạ tầng, không cảng bến bãi, không năng lực xây lắp biển,... Và đáng lo nhất là con người. Mặc dù chúng ta có một số cán bộ được đào tạo ở nước ngoài, nhưng lúc đó là học lý thuyết, chứ thực hành để điều hành, xây dựng một trung tâm dầu khí thì hầu như chúng ta chưa biết.
Do đó, ngay từ đầu, từ cán bộ quản lý, kỹ sư thiết kế, nghiên cứu khoa học cho đến công nhân lành nghề đều được gửi sang các trung tâm dầu khí lớn của Nga và đặc biệt là Baku để “học việc”, học cách điều hành, làm quen với các quy trình, quy phạm, tiêu chuẩn kỹ thuật nghiêm ngặt của bạn để khi về nước có thể phối hợp ngay với lực lượng chuyên gia Liên Xô (chủ yếu là người Azerbaijan) tại Vũng Tàu để triển khai hoạt động dầu khí.
Cái khó nữa là tập hợp, quản lý một tập thể “đa văn hóa”. Bản thân phía bạn cũng gồm nhiều sắc tộc, còn phía Việt Nam thì anh em tụ họp từ “tứ xứ”, từ nhiều ngành nghề khác nhau điều động về. Nhưng bằng tinh thần học hỏi, tất cả cùng hướng đến mục tiêu chung, nên trong một thời gian rất ngắn, chúng ta đã xây dựng được một bộ khung làm việc nhuần nhuyễn, phối hợp trơn tru và hoạt động cực kỳ hiệu quả.
PV: Trong ký ức của ông, đâu là hình ảnh ấn tượng nhất minh chứng cho sự trưởng thành “thần tốc” của kỹ sư, công nhân Việt Nam thời kỳ đó?
Ông Ngô Thường San: Điều đặc biệt ấn tượng mà tôi còn nhớ mãi là khi chúng ta xây lắp những chân đế đầu tiên. Khối chân đế của giàn cố định đầu tiên (MSP-1) của nước ta là phải nhập nguyên đai nguyên kiện từ Baku. Thiết bị phải đi một hải trình không tưởng: ngược dòng sông Volga, qua Biển Bắc, vòng qua toàn bộ lục địa Châu Phi, qua Ấn Độ Dương rồi mới tới Việt Nam. Mất ròng rã 6 tháng trời!
Chờ đợi như thế là không thể chấp nhận được trong ngành dầu khí. Chúng ta bắt buộc phải tự làm được tại cảng của mình. Từ khối chân đế thứ hai, thứ ba trở đi, toàn bộ công tác lắp ráp đều được thực hiện ngay tại Việt Nam. Đáng nói là trong bối cảnh trang thiết bị cực kỳ thô sơ và phần lớn là làm thủ công nhưng anh em đã hoàn thành mọi công đoạn một cách chuẩn xác. Tôi lấy ví dụ cái “chạc ba” – đấu nối để hàn gắn các khung sắt thép siêu trường siêu trọng đòi hỏi độ chính xác tuyệt đối về góc độ. Chỉ cần lệch một chút là hỏng cả bộ khung. Vậy mà bằng trí tuệ, sự tận tâm, anh em đã làm một cách trơn tru, hoàn hảo. Cho thấy sự trưởng thành vượt bậc.
![]() |
![]() |
PV: Từ sự ra đời và hoạt động của Vietsovpetro, có ý nghĩa như thế nào đến việc khai thác tấn dầu thương mại đầu tiên của đất nước, ngày 26/6/1986, thưa ông?
Ông Ngô Thường San: Đó là một kỳ tích! Hãy nhìn lại dòng thời gian: Năm 1981 thành lập Vietsovpetro, đến năm 1985, chúng ta đã khoan giếng khoan đầu tiên và phát hiện ra dầu công nghiệp ở giếng khoan Bạch Hổ 05 và đồng thời đến năm 1986 chúng ta khai thác tấn dầu đầu tiên.
Từ con số 0 mà chỉ mất 5 năm để có tấn dầu thương mại đầu tiên. Đây là tốc độ thần kỳ mà không phải tập đoàn dầu khí lớn nào trên thế giới cũng làm được, và tại Việt Nam cũng chưa có liên doanh nào lập lại được kỳ tích này. Tốc độ lịch sử đó được tạo nên bằng “mệnh lệnh của trái tim” của những người lao động quốc tế Việt - Xô tại Liên doanh. Chính vì khát vọng cháy bỏng là Việt Nam phải có dầu, chúng ta đã sáng tạo, dũng cảm bứt phá khỏi những quy trình công nghệ thông thường, dám chấp nhận rủi ro để rút ngắn thời gian một cách tối đa.
PV: Tấn dầu đầu tiên ấy có ý nghĩa như thế nào đối với đất nước giai đoạn đó, thưa ông?
Ông Ngô Thường San: Tấn dầu đầu tiên xuất hiện đã đưa Việt Nam chính thức ghi tên vào danh sách các quốc gia sản xuất và xuất khẩu dầu mỏ trên thế giới. Nó mang lại một ý nghĩa chính trị và kinh tế to lớn.
Có thể nói, nó có ý nghĩa quyết định đối với sinh mệnh nền kinh tế đất nước. Khi có dầu rồi, dòng ngoại tệ mạnh từ xuất khẩu dầu đổ về đã giúp chúng ta chấm dứt lạm phát ngay lập tức, giải quyết tận gốc bài toán thiếu hụt năng lượng và lương thực, những nỗi trăn trở lớn nhất của các nhà lãnh đạo tiền bối.
![]() |
Lúc sinh thời, cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng từng kỳ vọng, chỉ cần Vietsovpetro sản xuất được 1 triệu tấn dầu thôi cũng quý lắm rồi. Nhưng thực tế, đến nay, Vietsovpetro đã khai thác được hơn 255 triệu tấn dầu, năm cao điểm nhất đạt trên 15 triệu tấn, cùng với hơn 60 tỷ m³ khí đồng hành được đưa về bờ từ năm 1995, đóng góp cho ngân sách Nhà nước gần 60 tỷ USD.
Quan trọng hơn cả, thành công của ngành Dầu khí đã tạo ra cơ sở vật chất, nguồn lực tài chính vững chắc tạo đà cho thành công của công cuộc Đổi mới đất nước từ năm 1986. Tấn dầu đầu tiên chính là lời khẳng định đanh thép cho tầm nhìn chiến lược của Bác Hồ và quyết sách kế thừa chính xác của Đảng, Nhà nước khi chọn dầu khí làm động lực mũi nhọn để tái thiết quốc gia.
![]() |
PV: Thưa ông, nhìn lại chặng đường lịch sử đã qua, ông đánh giá như thế nào về những thành tựu mang tính bước ngoặt mà Vietsovpetro đã đóng góp cho ngành dầu khí Việt Nam và đất nước?
Ông Ngô Thường San: Vietsovpetro chính là “con chim đầu đàn”, đặt những viên gạch đầu tiên xây dựng nên hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật đồng bộ, giúp chúng ta chủ động, tự lực triển khai các hoạt động tìm kiếm, thăm dò và khai thác dầu khí biển.
Không dừng lại ở việc tiếp thu công nghệ, Vietsovpetro đã nâng tầm và sáng tạo ra những giải pháp kỹ thuật đỉnh cao. Chúng ta tiên phong trên thế giới khẳng định và khai thác thương mại thành công dầu trong đá móng nứt nẻ - một đóng góp độc đáo, mang tính bước ngoặt cho khoa học địa chất dầu khí toàn cầu. Chúng ta cũng vận chuyển thành công dầu nhiều parafin (đặc tính đặc quánh) bằng dòng tự chảy mà không cần máy bơm gia nhiệt tại mỏ; tự viết phần mềm điều khiển để vừa khoan vừa khai thác tại mỏ Bạch Hổ một cách an toàn tuyệt đối;…
Đặc biệt, Vietsovpetro chính là “trường đại học thực tế lớn nhất” - nơi rèn luyện và cho ra đời đội ngũ cán bộ, kỹ sư, nhà quản lý cốt cựu, nguồn nhân lực chất lượng cao cho Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam (Petrovietnam) và các đơn vị thành viên sau này.
Sự lớn mạnh của Vietsovpetro và sức lan tỏa từ tấn dầu đầu tiên là vô cùng rộng lớn. Cột mốc này đã tạo dựng uy tín quốc gia, trở thành “thỏi nam châm” thu hút các tập đoàn dầu khí đa quốc gia đổ vốn đầu tư vào Việt Nam, đặc biệt là sau khi Mỹ gỡ bỏ cấm vận vào năm 1993.
Những thành tựu này đã đặt nền móng vững chắc cho sự ra đời của một chuỗi giá trị dầu khí hoàn chỉnh từ thượng nguồn, trung nguồn đến hạ nguồn. Từ khâu thượng nguồn bứt phá, các lĩnh vực trung nguồn, hạ nguồn như công nghiệp khí, điện, đạm, dịch vụ kỹ thuật,... phát triển mạnh mẽ, hình thành nên những khu công nghiệp tầm cỡ quốc gia. Ý nghĩa lớn lao hơn cả là phát triển kinh tế vùng và bảo vệ chủ quyền. Nơi nào có dấu chân dầu khí đi qua, nơi đó kinh tế địa phương được vực dậy. Sự hiện diện kiên cường của các giàn khoan trên biển còn là những “cột mốc chủ quyền” thiêng liêng, góp phần giữ vững an ninh quốc phòng của Tổ quốc.
![]() |
Nội dung: Mai Phương | Ảnh/Video: Nguyễn Hiển | Thiết kế: Mai Châu