Gìn giữ màu xanh của biển
1. Trong tư duy phát triển bền vững kinh tế biển, “màu xanh của biển” trước hết gợi đến môi trường sinh thái của đại dương. Nhưng với một quốc gia ven biển như Việt Nam, màu xanh ấy còn là sự an toàn của không gian sản xuất trên biển, trật tự trong khai thác tài nguyên, khả năng phòng ngừa sự cố, sự hiện diện kinh tế hợp pháp và trách nhiệm của con người trước mỗi công trình dựng lên giữa sóng gió.
Nghị quyết số 36-NQ/TW năm 2018 về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đã đặt yêu cầu phát triển kinh tế biển trên nền tảng tăng trưởng xanh, bảo tồn đa dạng sinh học, bảo vệ hệ sinh thái biển và hài hòa giữa phát triển với bảo tồn. Trong không gian ấy, dầu khí là một ngành kinh tế biển đặc thù: hoạt động ở xa bờ, trong điều kiện kỹ thuật phức tạp, gắn với các yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn, môi trường, an ninh năng lượng và chủ quyền quốc gia. Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam (Petrovietnam), với vai trò doanh nghiệp nòng cốt trong chiến lược kinh tế biển quốc gia, vì thế cũng gánh vác trách nhiệm rộng hơn phạm vi khai thác tài nguyên.
![]() |
| Công trình khai thác dầu khí ngoài khơi của Petrovietnam (giàn RP-3, mỏ Rồng) |
Nhìn từ những công trình dầu khí ngoài khơi, màu xanh của biển được Petrovietnam gìn giữ bằng chuỗi hành động cụ thể, xuyên suốt. Đó là đánh giá tác động môi trường trước khi phát triển mỏ; kiểm soát nước khai thác, chất thải, khí thải trong quá trình vận hành; duy trì chuẩn an toàn trên giàn khoan, giàn khai thác; bảo vệ hành lang đường ống và vùng an toàn công trình; truyền thông cho ngư dân về tọa độ, quy định tránh va chạm; khảo sát định kỳ các cấu kiện ngầm dưới đáy biển; sẵn sàng hỗ trợ tàu cá, ngư dân gặp nạn. Tất cả những nỗ lực đó đã định hình nên một phương thức phát triển kinh tế biển có trách nhiệm.
Với công trình dầu khí biển, bảo vệ môi trường bắt đầu từ thiết kế và đi theo suốt vòng đời dự án. Một giàn khai thác, tàu chứa hay tuyến ống ngầm khi được đưa vào vận hành đều gắn với những yêu cầu về xử lý nước khai thác, kiểm soát chất thải, ứng cứu sự cố, quan trắc môi trường và báo cáo định kỳ. Biển xanh, ở đây được gìn giữ bằng những thông số, thiết bị, quy trình và sự tuân thủ bền bỉ của người vận hành.
Trong hoạt động khai thác ngoài khơi, nước khai thác sau khi tách dầu thương phẩm phải được xử lý, theo dõi hàm lượng dầu trước khi xả thải. Chất thải phải được phân loại, lưu chứa, vận chuyển về bờ hoặc bàn giao cho đơn vị có chức năng xử lý. Tại các công trình khai thác do các đơn vị thành viên của Petrovietnam vận hành, như Liên doanh Vietsovpetro, Tổng công ty Thăm dò Khai thác Dầu khí (PVEP), hay Công ty Điều hành Dầu khí Biển Đông (BIENDONG POC)…, yêu cầu này được cụ thể hóa bằng hệ thống kho chứa, máy ép rác, quy trình thu gom - vận chuyển chất thải từ công trình biển về bờ. Việc quản lý, kiểm soát môi trường được thể hiện qua các dữ liệu đo đạc và kết quả phân tích nước thải luôn được công bố định kỳ.
Cùng với kiểm soát nguồn thải là phòng ngừa và ứng phó sự cố. Các đơn vị như Vietsovpetro hay Tổng công ty CP Lọc hóa dầu Việt Nam (BSR), Tổng công ty Cổ phần Khoan và Dịch vụ Khoan Dầu khí (PV Drilling) đã hình thành lực lượng chuyên trách về an toàn, bảo vệ môi trường, cứu tràn dầu từ rất sớm. Việc diễn tập ứng phó sự cố tràn dầu tại các công trình ngoài khơi được tổ chức thường xuyên, định kỳ; gắn kiểm soát môi trường với hệ thống quản lý tích hợp QHSE và kỷ luật vận hành an toàn trên các công trình biển.
2. Ngoài khơi, an toàn và môi trường gắn chặt với nhau. Một ca vận hành an toàn giúp bảo vệ người lao động, thiết bị, dòng năng lượng và môi trường biển xung quanh. Một sự cố kỹ thuật nếu được phòng ngừa từ sớm sẽ tránh được những rủi ro lớn hơn về cháy nổ, rò rỉ, tràn dầu, ảnh hưởng hệ sinh thái và sinh kế của cộng đồng ven biển.
![]() |
| Tuyên truyền bảo vệ an ninh, an toàn công trình dầu khí tại Lô 01&02 (tháng 9-2025) |
Là đơn vị vận hành cụm mỏ xa bờ có tính chất phức tạp nhất trên thềm lục địa Việt Nam, BIENDONG POC vừa ghi nhận 4.817 ngày vận hành an toàn, không có tai nạn mất ngày công (Zero LTI), tỷ lệ sự cố ghi nhận được bằng không và không ghi nhận sự cố môi trường. Những kết quả cho thấy hiệu quả của hệ thống quản trị rủi ro được tổ chức chặt chẽ, từ chuẩn hóa quy trình, kiểm soát thiết bị, nhận diện mối nguy đến duy trì văn hóa an toàn. Hay như ở lĩnh vực khoan,
PV Drilling được ghi nhận nhiều năm vận hành an toàn, không có LTI, không để xảy ra sự cố môi trường trong hoạt động sản xuất kinh doanh, các giàn khoan sở hữu đều đạt Zero LTI. An toàn vận hành vì thế trở thành hàng rào đầu tiên bảo vệ con người, công trình và môi trường biển xung quanh.
Quan trọng hơn, chỉ số Zero LTI hay không sự cố môi trường nhiều năm liền chính là kết quả của hàng nghìn hành động nhỏ: nhận diện mối nguy trước ca làm việc, ghi nhận thẻ quan sát, dừng công việc khi điều kiện chưa bảo đảm, huấn luyện định kỳ, kiểm định thiết bị, diễn tập ứng cứu, rà soát nhà thầu, kiểm soát thay đổi kỹ thuật. Các công việc ấy âm thầm, lặp lại, đôi khi đơn điệu, nhưng đó là những yếu tố tạo nên sức bền cho hệ thống. Khi an toàn trở thành thói quen, môi trường biển có thêm một vành đai bảo vệ vững chắc.
Cùng với kiểm soát môi trường và an toàn vận hành, bảo vệ hành lang an toàn công trình dầu khí là một phần quan trọng trong quản trị không gian biển. Mỗi giàn khai thác, cụm công trình, tuyến ống ngầm đều có vùng an toàn cần được nhận diện, tuân thủ. Trong suốt quá trình hoạt động, các đơn vị Vietsovpetro, PVEP, BIENDONG POC, Tổng công ty Khí Việt Nam (PV GAS)… thường xuyên phối hợp Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng các tỉnh tổ chức các hoạt động tuyên truyền cho ngư dân; phát tài liệu có tọa độ công trình, cảnh báo qua sóng VHF giúp tàu cá nhận biết và tránh vùng rủi ro khi hoạt động trên biển.
Đơn cử đối với hệ thống đường ống dẫn khí, PV GAS và các đơn vị thành viên thường xuyên triển khai tuyên truyền tại những khu vực có hoạt động đánh bắt thường xuyên, nhằm hạn chế nguy cơ thả neo, kéo lưới, giã cào tác động xuống đáy biển. Công tác tuyên truyền cũng hướng dẫn thuyền trưởng, chủ phương tiện cài đặt tọa độ tuyến ống khí biển trên tàu cá để nhận biết vị trí đường ống nằm dưới đáy biển, phòng ngừa các hành vi gây mất an toàn.
Giai đoạn 2019-2025, Vietsovpetro và Bộ đội Biên phòng TP HCM duy trì phối hợp bảo vệ an ninh, an toàn các công trình dầu khí trên bờ và ngoài biển, không để xảy ra vụ việc nghiêm trọng ảnh hưởng đến tiến độ sản xuất, khai thác. Qua nhiều năm, công tác tuyên truyền, cài tọa độ, phát tài liệu và duy trì phối hợp tuần tra đã hình thành một lớp nhận diện an toàn ngay trong cộng đồng ngư dân, giúp các chủ phương tiện chủ động tránh khu vực công trình dầu khí, đồng thời tạo kênh thông tin để lực lượng chức năng phát hiện, nhắc nhở và xử lý sớm các nguy cơ trên biển.
3. Một công trình dầu khí ngoài khơi là tổ hợp của thép, thiết bị, đường ống, hệ thống điều khiển, tàu dịch vụ và con người. Nhưng trong nhiều tình huống, công trình ấy còn là một điểm tựa giữa biển. Các giàn khai thác, tàu trực mỏ, lực lượng vận hành và hệ thống liên lạc ngoài khơi của Petrovietnam còn đảm nhiệm vai trò đồng hành với ngư dân trong những tình huống khẩn cấp, hỗ trợ y tế, tìm kiếm cứu nạn và phối hợp với các lực lượng chức năng để đưa người gặp nạn về bờ an toàn.
Riêng tại các công trình biển của PVEP, từ năm 2012-2021, đã tham gia hỗ trợ 41 tàu và cứu 78 ngư dân gặp nạn trên biển. FPU Đại Hùng 01 hằng năm đều ghi nhận ít nhất 2 trường hợp tiếp nhận và hỗ trợ y tế cho ngư dân gặp nạn; có ca phải điều động trực thăng cùng ê-kíp y, bác sĩ ra giàn. Đội tàu dầu khí cũng là lực thượng thường xuyên tham gia cứu nạn: đầu năm 2026, tàu PTSC 03 cứu một ngư dân trôi dạt ở vùng biển Dung Quất; năm 2024, tàu Bình Minh, PVT Neptune và trước đó là PTSC Hải An đã cứu nhiều ngư dân gặp nạn trên các vùng biển Việt Nam và quốc tế.
![]() |
| Tàu PVT Neptune cứu ngư dân gặp nạn (tháng 9-2024) |
Hoạt động tìm kiếm, cứu nạn trên khơi xa là nghĩa cử cao đẹp và đã trở thành một phần trách nhiệm tự nhiên của người lao động Petrovietnam trên biển. Trong điều kiện làm việc xa đất liền, thiếu thốn về cơ sở vật chất, đây là minh chứng rõ nét cho tấm lòng và tinh thần “tương thân, tương ái” của những người “đi tìm lửa” đối với đồng bào. Sự tận tâm, chuyên nghiệp trong việc chăm sóc y tế, cung cấp nhu yếu phẩm và động viên tinh thần cho người gặp nạn cũng thể hiện tinh thần trách nhiệm của người lao động Petrovietnam, không chỉ với hoạt động sản xuất, mà còn góp phần giữ sự an toàn, niềm tin và sinh kế cho những con người đang nương nhờ biển cả.
4. Màu xanh của biển nhìn về dài hạn còn nằm ở cách một quốc gia tổ chức năng lực kinh tế trên biển: khai thác có kiểm soát, vận hành an toàn, sử dụng hiệu quả tài nguyên, phát triển công nghiệp gắn với bảo vệ môi trường và từng bước mở rộng sang các lĩnh vực năng lượng sạch hơn. Với Petrovietnam, năng lực đó được tích lũy qua nhiều thập niên làm chủ các công trình dầu khí ngoài khơi, từ khảo sát địa chất, khoan thăm dò, phát triển mỏ, vận hành giàn khai thác, quản lý đường ống ngầm, dịch vụ kỹ thuật biển đến ứng cứu sự cố, bảo dưỡng công trình và quản trị môi trường.
Mỗi công trình dầu khí ngoài khơi không chỉ mang về tài nguyên cho đất nước, mà còn là hành trình thu thập dữ liệu biển, phát triển nhân lực biển, nâng cấp năng lực thiết kế - chế tạo - vận hành công trình biển, phát triển đội tàu dịch vụ, hệ thống cảng hậu cần, công nghệ khảo sát đáy biển, quản trị an toàn và kinh nghiệm phối hợp trên không gian biển xa bờ. Những năng lực này trở thành nền móng để kinh tế biển phát triển theo hướng hiện đại, hiệu quả và bền vững hơn.
![]() |
| Người lao động Petrovietnam diễn tập ứng cứu sự cố trên công trình biển |
Từ thềm lục địa, Petrovietnam đã chuyển hóa tài nguyên thành các chuỗi giá trị năng lượng phục vụ đất nước: dầu thô, khí, điện, đạm, công nghiệp khí, dịch vụ kỹ thuật và hạ tầng năng lượng ven biển. Khi dòng khí ngoài khơi được đưa vào bờ qua các hệ thống đường ống lớn, khi các công trình biển vận hành ổn định và an toàn, kinh tế biển hiện diện bằng dòng năng lượng cụ thể cho sản xuất, đời sống và phát triển vùng.
Trên nền tảng đó, Petrovietnam tiếp tục mở rộng năng lực sang các hướng phát triển xanh hơn. Các nghiên cứu về năng lượng ngoài khơi, ROV mini, công nghệ khảo sát đáy biển, xử lý địa chấn, bản sao số, trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn, hydrogen xanh, ammonia xanh, nhiên liệu hàng không bền vững (SAF), điện gió ngoài khơi và công nghệ thu giữ, cũng như thu giữ, sử dụng, lưu trữ carbon (CCUS), cho thấy Tập đoàn đang chuẩn bị cho một không gian kinh tế biển thế hệ mới. Kinh nghiệm dầu khí được chuyển hóa thành lợi thế công nghệ, nhân lực và hạ tầng để phục vụ các ngành năng lượng phát thải thấp, dịch vụ kỹ thuật biển giá trị cao và quản trị tài nguyên biển hiệu quả hơn.
Vì vậy, đóng góp của Petrovietnam đối với màu xanh của biển nằm ở cả năng lực vận hành hôm nay và nền tảng cho hành trình sắp tới: khai thác hiệu quả, bảo vệ môi trường, đổi mới công nghệ và dịch chuyển sang các mô hình năng lượng bền vững hơn. Khi công trình biển được vận hành bằng kỷ luật, tài nguyên được sử dụng hiệu quả, công nghệ được nâng cấp và các chuỗi giá trị mới được mở ra từ nền tảng dầu khí, màu xanh của biển sẽ luôn được gìn giữ vững bền, từ năng lực công nghiệp, khoa học công nghệ và trách nhiệm của con người Petrovietnam.
| Với công trình dầu khí biển, bảo vệ môi trường bắt đầu từ thiết kế và đi theo suốt vòng đời dự án. Biển xanh, ở đây, được gìn giữ bằng những thông số, thiết bị, quy trình và sự tuân thủ bền bỉ của người vận hành. |
Trúc Lâm




