Bài dự thi viết “Kỷ niệm sâu sắc về ngành Dầu khí”

Cái giá cho mỗi giọt dầu

14:33 | 25/12/2015

2,788 lượt xem
|
Tiến sỹ Trần Đức Chính - nguyên Phó Tổng giám đốc Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (Petrovietnam) kiêm Trưởng ban Dự án Dầu khí nước ngoài - là một trong những chứng nhân lịch sử 40 năm xây dựng và phát triển của Tập đoàn. Trong cuộc đời công tác của ông in dấu sâu đậm nhiều kỷ niệm mà mỗi lần nhắc đến, chúng lại bừng sáng lên như ánh lửa ấm áp tình người.

Nuôi dưỡng hoài bão

Tốt nghiệp ngành Địa vật lý tại Trường đại học Tổng hợp Lomonosov, ngôi trường danh tiếng nhất của Liên bang Xô Viết, năm 1977, kỹ sư trẻ Trần Đức Chính được cử về công tác tại Đoàn 36F thuộc Tổng cục Dầu mỏ và Khí đốt Việt Nam.

Thời đó, sau khi hai miền Nam Bắc vừa thống nhất, đất nước được hoàn toàn giải phóng, một khí thế hăng hái lao động và cống hiến bao trùm trong tâm tưởng của mỗi người dân nước Việt, nhất là thế hệ trẻ, Trần Đức Chính cũng không là ngoại lệ.

Về nước nhận công tác ở Đội 5 địa chấn biển, đội có nhiệm vụ “bắn” địa chấn tại cửa Ba Lạt, cửa lớn nhất nơi sông Hồng đổ ra biển. Các số liệu địa chấn do đội của anh đo được khi đó chính là cơ sở dữ liệu địa chất để khoan giếng khoan “biển” đầu tiên của ngành Dầu khí.

Được đào tạo bài bản từ đất nước đứng đầu phe Xã hội chủ nghĩa, kỹ sư Trần Đức Chính hướng tới sự nghiệp tìm dầu với bầu nhiệt huyết căng tràn, với hoài bão và khát khao đóng góp đến cháy bỏng.

ca i gia cho mo i gio t da u
Tiến sỹ Trần Đức Chính

Đến nay, sau 40 năm, khi nói về những ngày đầu bước chân vào ngành Dầu khí, ông vẫn nhớ như in cảm xúc của những lần ra biển mà ông định nghĩa đầy tự hào: “Chúng ta bắt đầu từ tay trắng, vươn ra biển lớn trên những con thuyền gỗ để có được Petrovietnam hùng mạnh hôm nay”.

Vừa học 6 năm ở một nước có nền công nghiệp hiện đại như Liên Xô về, lúc đó lại phải làm một công việc rất “thô sơ và mông muội” - như ông nói - là cắm sào xuống biển, buộc máy đo địa chấn vào đó để đặt các máy thu vì không có cáp địa chấn biển, phải dùng cáp đo đất liền để thu nổ. Mọi công việc đo đạc, minh giải tài liệu, vẽ bản đồ đều bằng tay. Thêm nữa, những “ngư dân bất đắc dĩ” của đội phải làm việc cực nhọc, hứng chịu nhiều rủi ro nhưng cơm luôn không đủ ăn, áo không đủ ấm khi lênh đênh trên biển. Những tháng ngày đói rét và khó nhọc ấy đã lưu lại trong ông ấn tượng không thể phai mờ. Ông kể: “Lúc ấy ở Tiền Hải đã có khí, đã phát hiện dầu, cả các nhà địa chất dầu khí Việt Nam và Liên Xô đều kỳ vọng, đâu đó ngoài biển sẽ có dầu, có khí và tiềm năng sẽ lớn hơn nhiều ở đất liền. Chính niềm tin vào trí tuệ và tâm huyết của các bậc đàn anh đã trở thành động lực giúp chúng tôi, những kỹ sư trẻ, có đủ ý chí và nghị lực vượt qua tất cả”.

Một đời duyên nghiệp với dầu khí, ông Trần Đức Chính đã nếm trải hầu hết những thăng trầm của Petrovietnam. Ông trưởng thành từ một kỹ sư, tiếp tục học để bảo vệ luận án Tiến sỹ, đảm nhận các chức vụ, gánh vác nhiều trọng trách, cuối cùng làm Phó Tổng giám đốc kiêm Trưởng ban Dự án Dầu khí Nước ngoài của Tập đoàn vào thời kỳ phát triển rực rỡ nhất.

Mỗi bước đi đều để lại trong ông những cung bậc cảm xúc sâu đậm. Dường như năm tháng không cách nào ảnh hưởng đến ký ức của ông. Khi hồi tâm về những kỷ niệm, ông như sống lại với mỗi thời khắc ấy, đủ đầy, vẹn nguyên hình dạng.

ca i gia cho mo i gio t da u

Kể từ những năm 50 của thế kỷ trước, Bác Hồ đã tiên liệu con đường đi cho công nghiệp dầu khí Việt Nam sau khi Người đi thăm các mỏ dầu ở một số nước, trong đó có Liên Xô. Với tầm nhìn chiến lược đi trước thời gian, Bác Hồ đã  đề nghị Liên Xô giúp đỡ Việt Nam thăm dò dầu khí và ngay sau đó bắt đầu cử các thế hệ học sinh của ta sang Liên Xô, Rumani, Algeria… học về dầu khí. Ông Trần Đức Chính thuộc những lớp sinh viên này, lớp sinh viên được hun đúc ý chí, khát vọng thực hiện mong ước của Bác để về xây dựng và phát triển ngành Dầu khí nước nhà.

Mục tiêu chiến lược xây dựng một ngành công nghiệp dầu khí của Việt Nam có tầm cỡ quốc tế đã được Bác Hồ kính yêu đặt ra ngay khi đất nước vẫn bị chia cắt thành hai miền, cuộc kháng chiến chống Mỹ xâm lược vẫn còn đang khốc liệt. Vì vậy, các thế hệ lãnh đạo ngành những năm sau chiến tranh luôn nuôi dưỡng tâm nguyện hợp tác với nước ngoài và vươn ra nước ngoài để học tập kinh nghiệm, lĩnh hội công nghệ tiên tiến, hợp tác làm ăn. Mặt khác, do tính chất đặc thù của ngành này, đầu tư lớn, rủi ro cao, công nghệ hiện đại,… nên thông thường không quốc gia nào tự thực hiện toàn bộ chuỗi công nghiệp dầu khí. Chính Nghị quyết 15-NQ/TƯ của Bộ Chính trị về Phương hướng phát triển ngành Dầu khí đã cho phép mở rộng quan hệ đối tác với tất cả các nước, kể cả các nước tư bản đã tạo cơ sở và nền tảng cho những bước phát triển vượt bậc của ngành Dầu khí ngày hôm nay. Có sống trong bối cảnh ấy, khi đất nước vừa ra khỏi cuộc chiến tranh, bị bao vây cấm vận với muôn vàn khó khăn về kinh tế, mới thấy được sự sáng suốt và cả bản lĩnh, sự dũng cảm của thế hệ lãnh đạo đàn anh lúc bấy giờ. Ngành Dầu khí Việt Nam hôm nay đã ghi tên mình vào bản đồ dầu khí thế giới, trở thành đầu tàu kinh tế của đất nước, tiên phong trong hội nhập kinh tế quốc tế. Ông tâm đắc: “Ngành Dầu khí Việt Nam có ngày hôm nay vì thế hệ nào cũng có được những nhà lãnh đạo ngành tầm cỡ và đầy tâm huyết”.

Ông là một trong những người cảm nhận sâu sắc nhất về sự đổi thay, trưởng thành của ngành Dầu khí nước nhà. Khi còn đi học ở Liên Xô, rồi sau này ra công tác, được làm việc với các công ty dầu khí nước ngoài, tham dự những sự kiện dầu khí quốc tế hoành tráng, về đến nhà, trong cảnh thô sơ lạc hậu, bề bộn lo toan, nơi tâm khảm những người như ông luôn thôi thúc một ước mong cháy bỏng “bao giờ mình bằng được người ta!”

Những ước nguyện ấy, qua năm tháng thăng trầm gian khổ, nay đã thành hiện thực. Petrovietnam giờ đây đã có thương hiệu uy tín trên trường quốc tế, có hàng chục công ty dầu khí quốc tế danh tiếng vào Việt Nam làm ăn và ta cũng tham gia đầu tư ở hàng chục quốc gia trên thế giới; đội ngũ cán bộ được thử thách qua năm tháng: tâm huyết và chuyên nghiệp; thăm dò khai thác ở cả trong và ngoài nước phát triển, làm chủ mọi công nghệ mới nhất, tự đóng giàn khoan và các công trình dầu khí biển, không những thế còn có đóng góp cho kho tàng khoa học dầu khí thế giới những kiến thức và kinh nghiệm quý giá về thăm dò và khai thác dầu khí trong đá móng…

Có lẽ, chỉ thế hệ những người như ông, từng đổ mồ hôi, trút tâm sức, từng hy sinh cả tuổi thanh xuân, quên đi mọi hưởng thụ để làm nên một diện mạo ngành Dầu khí hào tráng như hôm nay mới thực sự hiểu thấu đáo đến tận cùng thế nào là "Lửa thử vàng, gian nan thử sức", mới thấy hết chân giá trị của những thành công.

Niềm tự hào trong con tim của lớp người “đi từ không đến có” như Tiến sỹ Trần Đức Chính khó có thể diễn tả bằng lời, sâu đậm ý nghĩa, lắng đọng cảm xúc và ấm áp lan tỏa như ngọn lửa tinh thần dầu khí.

Ông nhớ lắm tiếng chuông điện thoại reo vào cái đêm anh em từ Đồng Bằng Sông Hồng hay sa mạc Sahara nghẹn ngào gọi điện về báo tin với ông khi đó đang là Trưởng ban Tìm kiếm Thăm dò của Petrovietnam, đã thử vỉa thành công. Anh em nhảy múa tưng bừng bên đuốc lửa. Niềm sung sướng vỡ òa trong nước mắt.

“Thật sự làm Người điều hành các dự án ở trong nước” để rồi “Mang chuông đi đánh xứ người”, họ biết rằng ông đang đau đáu mong đợi thời khắc ấy với bao lo lắng, hồi hộp. Ông tự hào vì mình xứng đáng được báo tin, được chia sẻ niềm vui đầu tiên với họ.

Ông kể: “Dự án Bir Seba ở Algeria là dự án đầu tiên ở nước ngoài, chúng ta đã đi từ A đến Z, tham gia từ quá trình đấu thầu, thắng thầu và trực tiếp là Người điều hành triển khai dự án, tìm kiếm thăm dò thành công, phát hiện dầu khí thương mại, phát triển mỏ để ngày hôm nay chúng ta đã có khai thác dòng dầu thương mại đầu tiên với sản lượng khai thác 20.000 thùng dầu/ngày và đạt sẽ 40.000 thùng dầu/ngày vào Pha II. Đây là một thành công lớn của Petrovietnam, là một dự án điển hình mà chúng ta phát huy được vai trò của mình trong tổ hợp nhà thầu, làm được vai trò chủ đạo, dẫn dắt  và thuyết phục được các đối tác lớn là  Sonatrach (Algeria) và PTTEP (Thái Lan) trong suốt quá trình triển khai thực hiện dự án theo mong muốn của chúng ta vì mục tiêu hiệu quả.

Từ một giai đoạn chúng ta chỉ thiên về quản lý, giám sát các công ty nước ngoài ở Việt Nam, đến nay chúng ta đã thực sự làm chủ được dự án lớn là bước chuyển căn bản về chất và qua đó học được những bài học kinh nghiệm vô cùng quý giá để thành công trong đầu tư ở cả trong nước và vươn ra nước ngoài.

Ý nghĩa quan trọng của dự án này là chúng ta đã thành công ở một quốc gia giàu tiềm năng dầu khí của thế giới, môi trường cạnh tranh khốc liệt, có nền công nghiệp dầu khí phát triển và hệ thống quản lý rất chặt chẽ, đạt đến trình độ cao như Algeria; qua đó đạo tạo được một đội ngũ cán bộ có trình độ cao, tâm huyết. Thành công này cũng là một minh chứng cho chủ trương rất đúng đắn của chúng ta khi đầu tư ra nước ngoài là lựa chọn những nước giàu tiềm năng dầu khí đồng thời có quan hệ chính trị, ngoại giao tốt với Việt Nam.”

ca i gia cho mo i gio t da u
Giàn khoan của Petrovietnam tại sa mạc Sahara - Algeria

Đặt cọc cho tương lai

Thưởng thức nhiều vị ngọt của những thành công và cũng nếm trải đủ mọi cay đắng trong nghề, TS. Trần Đức Chính lại luôn là người lạc quan: “Đối với ngành Dầu khí, đến với một vùng đất mới phải với “cái đầu mới”; phải biết học từ thành công và cả thất bại. Mỗi giếng khoan không thành công cũng đều có giá trị làm tiền đề cho những giếng khoan sau thành công. Đây là ngành khoa học địa chất, khoa học dự báo, song khác các khoa học khác ở chỗ không dự án nào giống dự án nào; mỗi dự án có thể được coi là một công trình nghiên cứu sáng tạo và sáng tạo không ngừng ngay cả khi dự án đã thành công có phát hiện dầu khí, trong phát triển mỏ và cả quản lý mỏ; thành công của các dự án Đại Hùng và Bir Seba là minh chứng cho điều đó”.

40 năm qua, TS Chính từng chứng kiến khoa học công nghệ dầu khí có những bước nhảy vọt mang tính cách mạng. Tuy nhiên, kỷ niệm khó quên nhất với ông lại là những ngày được giao làm Phó giám đốc Trung tâm xử lý số liệu dầu khí tại TP Hồ Chí Minh, hồi năm 1983 -1988. Với hệ thống máy móc “năm cha, ba mẹ” gồm phần cứng do Mỹ để lại, phần mềm do Liên Xô cung cấp, Tổng cục Kỹ thuật của quân đội vận hành…, trong bối cảnh cấm vận ngặt nghèo, với tâm huyết của Nguyên Viện trưởng Hồ Đắc Hoài, sự giúp đỡ của tập thể chuyên gia Liên Xô, các kỹ sư Điện – Toán tài năng của Tổng cục Kỹ thuật, nhóm công tác của ông đã mày mò nghiên cứu, học tập, sáng tạo để hoàn thành những nhiệm vụ tưởng như “bất khả thi”. Đó là những tháng ngày thực sự thử thách trí tuệ và kiến thức của những kỹ sư Việt Nam.

Khoảng cách đi lên từ giai đoạn đo địa chấn tương tự trên những con thuyền gỗ, vẽ những lát cắt địa chấn, bản đồ bằng tay, rồi kỹ thuật số, 2D, 3D, đến giai đoạn vận hành những trung tâm, trạm xử lý, minh giải, mô phỏng hiện đại ngày nay… đã để lại cho TS. Trần Đức Chính những ấn tượng và cảm nhận sâu sắc về sự tiến bộ vượt bậc của khoa học công nghệ trong ngành công nghiệp dầu khí, như ông nói: “Nhiều thứ trước đây chỉ là ước mơ nhưng nay đã trở thành hiện thực”. Bài học được ông rút ra: “Đã là người dầu khí phải luôn học hỏi, phải liên tục cập nhật kiến thức mới, làm chủ công nghệ mới”.

Ông vẫn nhớ năm 1988 sang dự hội nghị CCOP ở Kuala Lumpur - Malaysia, chứng kiến sự bề thế, phát triển rực rỡ của Petronas mà thầm ước ao cho tương lai của Petrovietnam. Điều làm ông ngạc nhiên nhất chính là cách họ tạo lập mối quan hệ với bên ngoài để vươn ra trường quốc tế ở thuở ban đầu. Họ đã tin tưởng chuyển cho Petrovietnam những tài liệu (thời ấy được coi là rất quý khi chúng ta vừa có Nghị quyết 15-NQ/TƯ cho phép ngành Dầu khí mở rộng quan hệ đối với cả các nước tư bản) gồm cả một bản hợp đồng PSC mẫu để tham khảo nhằm thiết lập mối quan hệ hợp tác. TS. Trần Đức Chính gọi đây là một cách “đặt cọc cho tương lai” – một bài học quý trong đầu tư ra nước ngoài. Quả thực là từ đó, mối quan hệ giữa hai bên đã được thiết lập và phát triển tốt đẹp đến hôm nay, khi Petrovietnam đã tiến những bước khổng lồ, còn họ cũng đã rất thành công ở Việt Nam.

Trong cuộc đời TS. Trần Đức Chính, cũng từng phải trải qua những quyết định vô cùng khó khăn.

Đó là vào năm 2009 khi giá dầu từ trên 140 USD/thùng đột ngột “lao dốc” xuống còn có hơn 40 USD/thùng. Lúc đó ông đang làm Chủ tịch HĐTV PVEP, đơn vị chủ lực của Tập đoàn. Trước sức ép vô cùng lớn từ nhiều phía, để có thể đứng vững trước “cơn bão” kinh khủng này, sau khi soát xét các danh mục đầu tư, ông đã cùng tập thể lãnh đạo PVEP ra một quyết định quan trọng, đó là cắt hai dự án ở nước ngoài và dừng khai thác mỏ Đại Hùng. Đây là một quyết định khó khăn, đòi hỏi dũng khí lớn vào một thời điểm ngặt nghèo, then chốt. Và quyết định ấy đã đúng. Ông nói: “Trong thăm dò khai thác dầu khí, không phải chỉ có vị ngọt của thành công mà có cả vị đắng của thất bại, do vậy phải luôn rà soát từng dự án, rà soát danh mục đầu tư cả ở trong và ngoài nước để đầu tư có trọng tâm, trọng điểm, dũng cảm cắt bỏ những ‘cục đắng’ hoặc không ngọt vì mục tiêu hiệu quả”.

Khi làm Phó Tổng giám đốc Petrovietnam, Trưởng ban Dự án Dầu khí Nước ngoài, trực tiếp điều hành dự án ở Nhenhetxky LB Nga, dự án mà khi ông nhận nhiệm vụ còn đang bề bộn cam go trong xây dựng phát triển mỏ. Có người còn giễu cợt gọi là dự án “Nhoe - nhoét - xky”. Trước những gói thầu vài trăm triệu USD, số tiền quá lớn, mỗi một quyết định là một nan đề với ông.

Ông chiêm nghiệm: “Cho dù người đã kinh qua nhiều vị trí quản lý, điều hành nhưng thử quyết định số tiền hàng trăm triệu đô la đầu tư ở nước ngoài mới thấy không hề đơn giản. Phải có sự hiểu biết, kiên định lớn và phải đủ năng lực kiểm soát được số tiền đó mới dám tư vấn cho lãnh đạo Tập đoàn quyết định. Chính sự quyết liệt của Petrovietnam với một đội ngũ cán bộ giàu năng lực và tâm huyết, dự án đã được thúc đẩy mạnh mẽ, trở thành dự án thành công nhất của Tập đoàn ở nước ngoài, 3 mỏ dầu đã được đưa vào khai thác đạt sản lượng trên 3 triệu tấn/năm với tiến độ kỷ lục chỉ trong 3 năm kể từ khi khởi động dự án.

Tôi luôn tâm niệm rằng, ngồi ở ghế quản lý ở trong nước với tư cách chủ nhà và ngồi ở ghế quản lý ở ngoài nước với tư cách nhà đầu tư thì phải có hai cách tư duy và hành xử hoàn toàn khác biệt. Một đằng phải đồng thời vì lợi nhuận, bảo vệ tài nguyên và quyền lợi của đất nước, một đằng phải đặt lợi nhuận lên hàng đầu, phải khai thác nhiếu nhất, nhanh nhất có thể, thu hồi nhanh nhất đồng vốn đầu tư của mình trong thời hạn của hợp đồng. Kinh nghiệm, bài học từ quản lý các công ty dầu khí nước ngoài hoạt động tại Việt Nam khi tôi còn là Trưởng Ban Quản lý Hợp đồng Dầu khí ở trong nước đã giúp chúng tôi rất nhiều khi ra nước ngoài”.

Gói lại tất cả, kỷ niệm sâu sắc nhất về ngành Dầu khí đối với ông là bài học thành công về trồng người để có được đội ngũ cán bộ có chất lượng cao, chuyên nghiệp, hết lòng và quan trọng hơn cả là có được những người đứng đầu bản lĩnh, tầm cỡ và tâm huyết – Đây chính là bài học thấm thía nhất về đặt cọc cho thành công hôm nay và tương lai của Petrovietnam.

Một đời gắn bó với ngành Dầu khí, TS. Trần Đức Chính thấm thía cái giá phải trả cho mỗi giọt dầu. Mỗi khi bừng lên ngọn đuốc lửa nơi giàn khoan, báo hiệu một dòng dầu mới, mỗi khi Petrovietnam lập nên một kỳ tích mới, nơi ông, trong huyết quản cảm xúc lại dâng trào không thể nào kìm nén được. Hơn ai hết ông mong muốn thế hệ hôm nay đủ tầm vóc để gìn giữ ngọn lửa Dầu khí, phát dương văn hóa, nuôi dưỡng khát vọng vươn lên tầm cao mới, xây dựng Petrovietnam vững mạnh, trường tồn.

Nguyễn Tiến Dũng

DMCA.com Protection Status