Dầu mỏ, Tiền bạc và Quyền lực (Kỳ 22)

07:00 | 01/12/2022

|
(PetroTimes) - Giá dầu thô tăng mạnh đến mức năm 1948, giá dầu cao hơn gấp đôi so với năm 1945. Các chính trị gia tuyên bố Mỹ đang rơi vào một cuộc khủng hoảng năng lượng.

CHƯƠNG 21: TRẬT TỰ DẦU LỬA SAU CHIẾN TRANH

Chế độ chia định mức xăng tại Mỹ được bãi bỏ năm 1945, chỉ 45 giờ sau khi quân Nhật đầu hàng. Ngay lập tức, trên khắp nước Mỹ, những người sử dụng ôtô, vốn im lặng trong suốt nhiều năm, quẳng sổ phân phối đi và tràn xuống đường hét vang: "Đổ đầy đi!". Một lần nữa, Mỹ trở lại với niềm đam mê ôtô. Năm 1945, có 26 triệu xe hơi được sử dụng tại Mỹ, đến năm 1950, con số này đã là 40 triệu. Gần như không một công ty nào trong ngành công nghiệp dầu lửa sẵn sàng cho sự bùng nổ nhu cầu về tất cả các sản phẩm từ dầu. Năm 1950, lượng xăng bán ra tại Mỹ tăng 42% so với năm 1945, đồng thời dầu đã đáp ứng nhu cầu năng lượng của nước này nhiều hơn so với than. Mặc dù nhu cầu nhiên liệu bùng nổ mạnh mẽ hơn dự kiến, nhưng dự báo bi quan về nguồn cung dầu lửa sau chiến tranh vẫn giảm dần.

Sau khi chế độ kiểm soát bị bãi bỏ, giá cả trở thành động lực mạnh mẽ thúc đẩy hoạt động khai thác dầu. Nhiều mỏ dầu mới được đưa vào khai thác tại Mỹ cũng như Canada, nơi năm 1947 một công ty con của Jersey là Imperial đã khoan thành công một giếng thăm dò gần Edmonton thuộc tỉnh Alberta, khơi mào cơn bùng nổ dầu lửa mạnh mẽ đầu tiên của thời kỳ hậu chiến. Mặc dù cả nhu cầu và sản lượng dầu mỏ đều tăng, trữ lượng dầu mỏ của Mỹ năm 1950 vẫn cao hơn 21% so với năm 1946. Xét cho cùng, nguồn tài nguyên dầu trong lòng đất của Mỹ chưa cạn kiệt. Tuy nhiên, tình trạng thiếu dầu có sẵn đã xảy ra vào các năm 1947 và 1948.

Giá dầu thô tăng mạnh đến mức năm 1948, giá dầu cao hơn gấp đôi so với năm 1945. Các chính trị gia tuyên bố Mỹ đang rơi vào một cuộc khủng hoảng năng lượng. Các công ty dầu lửa lớn bị buộc tội đã cố tình dựng màn kịch thiếu cung để đẩy giá dầu lên. Những nghi ngờ về âm mưu và sự thông đồng giữa các công ty trong ngành công nghiệp này đã dẫn tới hơn 20 cuộc điều tra của Quốc hội. Tất nhiên có những lý do khá rõ ràng của sự thiếu hụt này. Lượng tiêu thụ tăng nhanh ở mức không ngờ hoặc "đáng ngạc nhiên", như nhận định của Công ty Shell, trong khi việc thích nghi với hoàn cảnh sau chiến tranh tất yếu đòi hỏi phải có một giai đoạn chuyển tiếp. Cụ thể, nhu cầu dầu nhiên liệu cho ngành hàng không và máy bay chiến đấu giảm đáng kể nhưng nhu cầu xăng và dầu đốt gia dụng lại tăng lên. Do đó các nhà máy lọc dầu cần thời gian và tiền bạc để chuyển đổi của công nghệ, sản xuất các sản phẩm dân sự thay cho các sản phẩm phục vụ chiến tranh. Ngoài ra, sự thiếu hụt nguồn cung sắt thép trên toàn thế giới kìm hãm quá trình chuyển đổi các nhà máy lọc dầu cũng như việc đóng tàu chở dầu và xây dựng các đường ống dẫn, gây ra tình trạng tắc nghẽn trong vận chuyển dầu.

Vấn đề thiếu tàu chở dầu càng trầm trọng hơn vào năm 1948, sau khi nhiều con tàu bị vỡ đôi ngoài khơi và Cơ quan bảo vệ bờ biển đã phải ra lệnh cho 288 tàu ngừng hoạt động để gia cố khẩn cấp. Đối với các công ty dầu lửa, đây là thời kỳ có áp lực rất lớn về nguồn cung xăng dầu cho bán lẻ và chính những công ty này đã đi đầu trong việc ủng hộ tiết kiệm nhiên liệu. Công ty Standard của Indiana kêu gọi mọi người hạn chế sử dụng ôtô, tránh khởi động xe và giữ các bánh xe luôn căng hơi. Tất cả đều nhằm mục đích giảm lượng xăng tiêu thụ. "Những gợi ý có ích" cho việc tiết kiệm xăng đã được Công ty Sun Oil quảng bá trong các chương trình quảng cáo trên các buổi phát thanh đại chúng hàng ngày của Lowell Thomas. Tình trạng thiếu dầu mỏ cũng thúc đẩy việc nhập khẩu dầu với khối lượng lớn.

Nếu năm 1947, xuất khẩu dầu của Mỹ vượt lượng dầu nước này nhập khẩu, thì giờ đây, cán cân này đã dịch chuyển. Năm 1948, lần đầu tiên, nhập khẩu dầu thô và các sản phẩm dầu thô đã vượt lượng xuất khẩu. Mỹ không thể tiếp tục vai trò lịch sử của mình là nước cung cấp dầu cho phần còn lại của thế giới nữa, mà phụ thuộc vào các quốc gia khác vì lượng dầu mỏ khai thác trong nước luôn ít hơn so với nhu cầu sử dụng. Một cụm từ đáng ngại xuất hiện thường xuyên hơn trong vốn từ của người dân nước này – "dầu ngoại quốc".

Những thỏa thuận lớn về dầu lửa: Aramco và "rủi ro Arập"

Việc nhập khẩu dầu nước ngoài làm nảy sinh câu hỏi gây tranh cãi về an toàn năng lượng của Mỹ. Trong bối cảnh cuộc Chiến tranh Lạnh đang gia tăng với Liên Xô, những bài học trong Chiến tranh thế giới thứ hai, ảnh hưởng của dầu mỏ đến nền kinh tế và trữ lượng phong phú nguồn tài nguyên dầu lửa của Trung Đông cho thấy yếu tố quan trọng hàng đầu đối với an ninh của Anh, Mỹ và Tây Âu là có được quyền tiếp cận nguồn dầu mỏ Trung Đông. Dầu mỏ là điểm đồng quy của chính sách đối ngoại, những đánh giá về nền kinh tế thế giới, an ninh quốc gia và lợi ích của các doanh nghiệp.

Trung Đông sẽ là trung tâm của những vấn đề này. Ở đó, các công ty dầu lửa đang nhanh chóng khai thác các mỏ dầu và hình thành những thỏa thuận mới để bảo đảm cho vị trí của họ. Tại Arập Xêút, các mỏ dầu nằm trong tay Công ty Aramco hay còn gọi là Công ty dầu lửa Arập - Mỹ, một liên doanh giữa Socal và Texaco. Nhưng Aramco đang gặp rắc rối vì trữ lượng phong phú của các mỏ dầu tại đây làm phát sinh nhu cầu khổng lồ về vốn và thị trường. Trong số hai công ty thành lập nên liên doanh này, Socal dễ bị tổn thương hơn. Texaco là doanh nghiệp quan trọng nhất ra đời khi mỏ dầu Spindletop được phát hiện năm 1901. Đây là một công ty nổi tiếng của Mỹ, tài trợ cho chương trình Metropolitan Opera phát sóng trên khắp thế giới. Ngoài ra, những người làm việc tại trạm bán lẻ xăng dầu của công ty, "người đeo ngôi sao", là một trong những biểu tượng quen thuộc nhất trong lĩnh vực quảng cáo hiện đại của Mỹ. Ngược lại, Socal là một công ty có quy mô khu vực và không nổi tiếng lắm.

Từ Chiến tranh thế giới thứ nhất, công ty này đã chi hàng triệu đô-la vào việc tìm kiếm các mỏ dầu trên thế giới. Tuy nhiên, những nỗ lực này không đem lại kết quả gì, ngoại trừ hoạt động khai thác dầu ở quy mô nhỏ tại Đông Ấn và Bahrain và đặc biệt là tại Arập Xêút. Quyền khai thác dầu ở các nước Arập là một phần thưởng lớn đến nỗi mà công ty ở California này không dám mơ ước tới. Với Chủ tịch Socal, Harry Collier, quyền khai thác dầu đem lại một cơ hội tuyệt vời nhưng cũng đồng nghĩa với những rủi ro đáng sợ cả về mặt kinh tế và chính trị. Năm 1946, đầu tư của Công ty Standard-California trong quyền khai thác dầu Aramco đạt mức 80 triệu đô-la và vẫn còn cần tới hàng chục triệu đô-la nữa.

dau mo tien bac va quyen luc ky 22
Khai thác dầu ở Saudi Arabia

Để có thể tiếp cận với thị trường châu Âu, Socal và Texaco muốn xây dựng một đường ống ngang qua sa mạc từ Vùng Vịnh đến Địa Trung Hải. Về bản chất, dự án này cũng giống như dự án đường ống mà Harold Ickes đã kêu gọi Chính phủ Mỹ đầu tư, nhưng giờ đây, bản thân các công ty sẽ phải bỏ ra 100 triệu đô-la cho dự án. Socal thậm chí còn phải đối mặt với một thử thách đáng nản hơn. Một khi dầu mỏ đã tới được châu Âu, nó sẽ được bán như thế nào? Collier biết rằng, việc mua hoặc xây dựng một hệ thống lọc và tiêu thụ dầu ở châu Âu với quy mô phù hợp sẽ rất tốn kém, đồng thời sẽ đẩy Socal và Texaco vào một trận chiến quyết liệt giành thị phần với những đối thủ cạnh tranh đã có vị thế vững chắc tại thị trường này. Rủi ro này sẽ càng tăng thêm nếu tình hình chính trị bất ổn định. Các đảng cộng sản có mặt trong chính phủ liên minh của cả Italia và Pháp.

Tương lai nước Đức đang bị chiếm đóng không có gì là rõ ràng. Ở Anh, chính phủ Công đảng đang bận rộn với việc quốc hữu hóa "những đỉnh cao chỉ huy" của nền kinh tế nước này. Nhưng Socal không có lựa chọn nào khác ngoài việc tăng mức sản lượng khai thác ngày càng cao vì Chính phủ Arập Xêút đã nhận ra tiềm năng của các mỏ dầu và luôn yêu cầu sản lượng cũng như doanh thu cao hơn cho tương xứng với trữ lượng khổng lồ của nguồn tài nguyên này. Quyền khai thác dầu của Aramco sẽ bị ảnh hưởng nếu công ty này không thỏa mãn những kỳ vọng và yêu cầu của Ibn Saud và gia đình hoàng gia. Đây là ưu tiên số một của Socal và đồng nghĩa với việc bằng cách này hay cách khác, Aramco sẽ phải vận chuyển một lượng dầu khổng lồ tới châu Âu. Nhưng trước khi dầu tới được đó, đường ống dẫn xuyên các nước Arập được gọi là Tapline sẽ phải đi qua nhiều vùng đất mà một vài vùng trong số đó mới chỉ đang tiến tới hình thành nhà nước. Một nước Do Thái có thể sẽ sớm được thành lập tại Palestine nếu nhận được sự hậu thuẫn của Mỹ, tuy nhiên Ibn Saud là một trong những người phản đối mạnh mẽ nhất một nhà nước như vậy. Chiến tranh có thể nổ ra tại khu vực này. Khu vực này cũng có vẻ dễ bị tổn thương trước sự xâm nhập của Liên Xô trong những ngày đầu của cuộc Chiến tranh Lạnh. Bản thân sức khỏe của nhà vua cũng là mối lo ngại, nó đã khiến chủ tịch của Socal và Texaco vội vàng đến Washington năm 1943.

Lúc đó Ibn Saud đã khoảng 65 tuổi, mù một mắt và sức khỏe giảm sút. Sức mạnh và lòng quyết tâm của ông đã không chỉ tạo ra mà còn duy trì vương triều này. Nhưng điều gì sẽ xảy ra khi sức mạnh đó không còn? Ibn Saud có tới 45 người con trai, trong đó 37 người được cho là đang còn sống, nhưng liệu đó sẽ là yếu tố dẫn tới sự ổn định hay tình trạng xung đột và hỗn loạn? Trong trường hợp xảy ra những vấn đề chính trị, Socal có thể trông cậy vào hình thức giúp đỡ nào từ phía Chính phủ Mỹ, khi tất cả những rủi ro này gộp lại? Socal rõ ràng sẽ phải theo đuổi chính sách "đông kết" của mình và nỗ lực bảo đảm thị trường theo những cách khác. Câu trả lời cho nhiều vấn đề của Aramco là một liên doanh rộng hơn. Việc phân tán rủi ro, chia sẻ lợi nhuận, liên kết với những công ty dầu lửa khác sẽ làm tăng vị thế chính trị và có thể cung cấp vốn, trình độ chuyên môn quốc tế và đặc biệt là thị trường.

Một điều kiện quan trọng khác là vua Ibn Saud một mực đòi 100% quyền sở hữu Aramco phải là của Mỹ và chỉ có hai công ty đáp ứng yêu cầu này là Standard Oil-New Jersey và Socony-Vacuum. Gwin Follis, người giải quyết vấn đề này cho Socal, nhớ lại là tại Tây bán cầu, các công ty này có thể đem lại "những thị trường mà chúng tôi hầu như không thể chạm tới". Đôi khi, tính logic của việc liên kết rộng rãi hơn là hiển nhiên, không chỉ đối với Collier và những người khác trong ngành công nghiệp dầu lửa. Nhiều quan chức trong Bộ Ngoại giao và Hải quân Mỹ đã khuyến khích Aramco có thêm các đối tác, "có đủ thị trường để tiêu thụ sản phẩm sản xuất được từ quyền khai thác dầu này". Socal hết sức sửng sốt trước "thái độ nhiệt tình đáng ngạc nhiên của Bộ Ngoại giao Mỹ, khi họ nhận được thông báo của chúng tôi rằng một thỏa thuận như vậy đang được chúng tôi cân nhắc".

dau mo tien bac va quyen luc ky 22
Các mỏ dầu ở Trung Đông

Dù Washington có thực sự đóng vai trò một nhà môi giới công khai hay không, rõ ràng là việc mở rộng liên kết như vậy sẽ giúp thúc đẩy những mục tiêu chiến lược cơ bản của Mỹ: tăng sản lượng dầu ở Trung Đông và nhờ đó bảo toàn được nguồn tài nguyên dầu ở Tây bán cầu, đồng thời tăng thu nhập cho Ibn Saud và bảo đảm rằng quyền khai thác dầu vẫn sẽ ở trong tay người Mỹ. Bộ trưởng Hải quân James Forrestal nói rằng ông không "quan tâm đến việc công ty nào khai thác các mỏ dầu ở Arập" miễn là đó là các công ty "Mỹ".

Mùa xuân 1946, sản lượng dầu tại các nước Arập của Jersey đạt mức 9.300 thùng/ngày. Tuy nhiên, sẽ còn có thêm rất nhiều dầu nữa từ Iraq giúp các đối thủ cạnh tranh mạnh thêm và Jersey rất lo ngại rằng Socal và Texaco sẽ tự mình nhảy vào thị trường châu Âu, đe dọa hệ thống thị trường của Jersey với lượng dầu giá rẻ vô tận từ các nước Arập. Đề nghị của Socal đã đem đến cho Jersey một cơ hội không có lý do gì để bỏ qua. Trong khi hai bên đang thỏa thuận về mức độ tham gia, Harry Collier, Chủ tịch Socal, nhận ra rằng ông đang phải đối mặt với thách thức từ phía chính những người trong công ty mình, những người phản đối mạnh mẽ ý tưởng mời Jersey hợp tác với Aramco. Cuộc tấn công này xuất phát từ bộ phận sản xuất của Socal ở San Francisco vốn chịu trách nhiệm làm cho vùng sa mạc khô cằn phải nở hoa và không muốn mất quyền kiểm soát vào tay những đối tác khác lớn hơn và quyền lực hơn. Trong vòng 13 năm, các cổ đông tham gia đầu tư vào các nước Arập và đã không thu được khoản lời nào.

Chỉ tới năm 1946, quyền khai thác dầu mới bắt đầu đem lại lợi nhuận. Vậy tại sao lại nhường nó cho Standard Jersey? Thậm chí, những người trực tiếp sản xuất, mà đứng đầu là Jamess MacPherson, một kỹ sư làm việc cho Socal, người chịu trách nhiệm về các hoạt động tại mỏ dầu của Aramco ở Arập Xêút còn phản đối mạnh mẽ hơn. Với lập luận rằng quyền khai thác này là một "mỏ vàng", MacPherson dự định xây dựng Aramco trở thành một công ty độc lập lớn trong ngành công nghiệp dầu lửa thế giới. Ông muốn chỉ lên quả địa cầu và nói với các nhân viên của mình: "Đây là thị trường dầu lửa của chúng ta". Ông tuyên bố rằng Aramco chắc chắn sẽ trở thành "công ty dầu lửa lớn nhất thế giới". Vì thế, ông không thể chấp nhận được việc Aramco và Socal đang tự biến mình thành một phần phụ trong bộ phận sản xuất của Jersey. Ngược lại với suy nghĩ của MacPherson, Harry Collier tin tưởng rằng Aramco có thể bán thêm được rất nhiều dầu thông qua quyền được tiếp cận hệ thống thị trường của Jersey và công ty này có thể có được nhiều "vàng" hơn khi chỉ hoạt động với đối tác Texaco. Ngoài ra, thỏa thuận này sẽ cho phép Socal thu hồi lại được toàn bộ khoản đầu tư trực tiếp của mình. Quyết định được đặt lên vai Collier, "Ông trùm ghê gớm", là ông chủ của Aramco. Một lựa chọn an toàn đã được quyết định, đó là liên kết với Jersey. Lựa chọn này đã không cho phép Aramco trở thành công ty dầu lửa lớn nhất thế giới.

Xóa bỏ Thỏa thuận Ranh giới đỏ

Trong khi đang diễn ra các cuộc thảo luận về cách thức hợp tác với Aramco, Jersey cũng có các cuộc đối thoại khác với Socony về khả năng tham gia của công ty này. Nhưng cả Jersey và Socony phải đối mặt với hai trở ngại đáng sợ nhất trước khi họ gia nhập Aramco: tư cách thành viên của họ tại Công ty dầu lửa Iraq IPC (Iraq Petroleum Company) và Calouste Gulbenkian. Các công ty này đã bỏ ra 6 năm và hàng nghìn giờ đồng hồ tranh luận căng thẳng trong những năm 1920 để tổ chức dàn xếp IPC. Một trong những điều khoản chủ chốt của công ty này là thỏa thuận nổi tiếng có tên Ranh đỏ, quy định rằng các công ty tham gia IPC không thể hoạt động độc lập tại bất cứ đâu bên ngoài Ranh giới đỏ mà Calouste Gulbenkian đã vạch lên bản đồ năm 1928. Arập Xêút nằm ngoài Ranh giới đỏ đó, và điều 10 về "tự loại bỏ" của thỏa thuận IPC ngăn cấm Jersey và Socony tham gia Aramco, trừ phi các công ty này tham gia cùng với các thành viên khác như Shell, Anh - Iran, Công ty quốc gia Pháp (CFP) và bản thân ông Gulbenkian. Vài lần, Jersey và Socony đã muốn rút khỏi Thỏa thuận Ranh giới đỏ vì nó không đem lại nhiều lợi nhuận cho họ như đã tưởng. Hai công ty này bị trói buộc vào một trong những mỏ dầu lớn nhất thế giới vì vỏn vẹn chỉ sở hữu 11,8745% của một doanh nghiệp mà họ không điều hành. Chính phủ Mỹ đã giúp họ tham gia thỏa thuận này vào những năm 1920 nhưng ở thời điểm những năm 1940 này, hẳn sẽ không thực sự giúp họ rút lui. Jersey và Socony đã tìm ra cách để tự giải thoát. Một nhân viên của Socony đã gọi đây là một "quả bom".

Phương sách này được gọi là thuyết "sự không hợp pháp bất ngờ". Khi Chiến tranh thế giới thứ hai nổ ra, Chính phủ Anh đã giành quyền kiểm soát cổ phần trong IPC do CFP và Gulbenkian nắm giữ. Gulbenkian khi đó đã khăn gói ra đi với chính phủ hợp tác với Đứccủa Pháp tới Vichy, nơi ông được cử đến Tòa công sứ Iran với vai trò Tham tán thương mại. Việc London nắm giữ những cổ phần này được tiến hành trên cơ sở cả CFP, với tư cách là một công ty, và Gulbenkian, đều đang đóng tại vùng lãnh thổ nằm dưới sự kiểm soát của Đức Quốc xã và do đó, bị coi là "phần tử thù địch".

Theo thuyết "sự không hợp pháp bất ngờ", toàn bộ thỏa thuận IPC đã bị phá vỡ và hết hiệu lực. Khi chiến tranh kết thúc, CFP và Gulbenkian được trả lại cổ phần tại IPC. Nhưng đến, cuối năm 1945, Jersey và Socony lại sử dụng thuyết "sự không hợp pháp bất ngờ". Theo họ, toàn bộ thỏa thuận của IPC, trong đó có điều khoản Ranh giới đỏ, không còn hiệu lực nữa và cần phải đàm phán để có được một thỏa thuận mới. Đại diện của Jersey và Socony đến London thông báo điều đó với các thành viên châu Âu trong IPC. Họ sẵn sàng gia nhập một thỏa thuận mới nhưng không có các điều khoản hạn chế Ranh giới đỏ, những điều khoản "trong bối cảnh thế giới hiện tại và theo luật pháp của Mỹ là không phù hợp và bất hợp pháp". Những người Mỹ này biết mình sẽ phải thuyết phục riêng rẽ từng công ty đàm phán lại.

Các công ty này bao gồm Anh - Iran, Shell, SFP và một doanh nghiệp có tên Participations and Investments (P&I), chính là công ty cổ phần của kẻ báo ứng trước đây của họ, Calouste Gulbenkian. Anh - Iran và Shell cho biết, họ nghĩ rằng vấn đề này có thể được giải quyết hòa bình trên cơ sở "lợi ích chung". Tuy nhiên, công ty của Pháp không muốn thỏa hiệp. Họ phản đối mạnh mẽ quan điểm của các công ty Mỹ bởi IPC và Thỏa thuận Ranh giới đỏ đã duy trì lợi ích dầu lửa của họ tại Trung Đông. Họ đang phụ thuộc vào sự chia phần được chính phủ thừa nhận này và sẽ không từ bỏ những gì mà Chính phủ Pháp đã phải nỗ lực rất nhiều để đạt được. Tình hình năng lượng của Pháp đã đủ tồi tệ. Người ta nói rằng tướng Charles de Gaulle, người đứng đầu Chính phủ Pháp đã nổi xung khi biết được sản lượng dầu khiêm tốn thực tế CFP đã sản xuất – mặc dù ông biết mình không thể phản đối điều kiện địa chất hoặc "giận dữ với Chúa", theo như cách nói của một trợ lý của ông.

Về phần mình, Calouste Gulbenkian đã nhanh chóng và ngang tàng đáp trả những nỗ lực từ bỏ bản thỏa thuận của Jersey và Socony: "Chúng tôi không đồng ý". IPC, trước đó là Công ty dầu lửa Thổ Nhĩ Kỳ, là sự nghiệp cuộc đời của ông, là tượng đài vĩ đại của riêng ông. Ông đã bắt đầu tạo dựng nó cách đây 40 năm và sẽ không cho phép nó bị chia cắt dễ dàng. Năm 1946, Gulbenkian đang sống tại Lisbon, nơi ông đã chuyển tới từ Vichy vào thời điểm giữa cuộc chiến tranh. Không rời khỏi Bồ Đào Nha, ông chống lại những nỗ lực loại bỏ Thỏa thuận Ranh giới đỏ thông qua các luật sư và nhân viên của mình. Các nhà đàm phán người Mỹ, thuộc một thế hệ mới, không biết thế nào là hậu quả cơn giận khôn nguôi của Walter Tealges nên đã bỏ ngoài tai những lời đe dọa của Gulbenkian. Harold Sheets, Chủ tịch Socony, lạc quan: "Chúng ta không có lý do gì phải mua chữ ký của Gulbenkian." Tự tin với tư cách hợp pháp của mình, họ quyết định tiến tới và thương lượng với Texaco và Socal, hai công ty thuộc Aramco. Tuy nhiên, nguy cơ kiện tụng về vấn đề IPC và Thỏa thuận Ranh giới đỏ không phải là rủi ro duy nhất mà Jersey và Socony phải chống chọi. Liệu sự kết hợp bốn bên mới trong Aramco có vi phạm luật chống độc quyền của Mỹ không? Mối lo ngại này đã khiến các luật sư phải xem lại sắc lệnh về giải thể năm 1911.

dau mo tien bac va quyen luc ky 22
Calouste Gulbenkian

Dù sao, ba trong số bốn công ty có ý định tham gia vào liên doanh này đã bị loại ra khỏi tờ-rớt Rockefeller ban đầu. Các luật sư kết luận rằng sự liên kết này sẽ không vi phạm luật chống độc quyền, ngay cả theo cách giải thích luật mới, hay sắc lệnh về giải thể vì "sẽ không một cản trở phi lý nào được áp đặt đối với nền thương mại của Mỹ ". Sau cùng, Aramco sẽ không tham gia vào lĩnh vực dầu lửa tại Mỹ. Luật sư trưởng của Socony đã diễn tả một mối lo ngại lớn hơn – rằng bảy công ty sẽ không được phép nắm quyền kiểm soát áp đảo đối với tài nguyên dầu ở Tây bán cầu cũng như Đông bán cầu "trong một khoảng thời gian dài… mà không cần tới một dạng quy định nào đó".

Nhưng ông cũng nói thêm: "Đây là một vấn đề chính trị… Công việc của chúng ta dường như là sẽ phải tham gia vào trò chơi ở mức tốt nhất có thể theo những quy tắc hiện hành". Cách tốt nhất để tham gia trò chơi là bắt tay vào việc. Đến tháng 12 năm 1946, về cơ bản, bốn công ty đã đồng ý mở rộng Aramco. Sau sự phản đối tức thời từ đại diện của Gulbenkian, một quan chức của Socony ở London đã tìm cách làm an lòng vị chủ tịch hãng tại New York: "Tôi chắc chắn rằng P&I và người Pháp sẽ làm ầm ĩ về vấn đề này nhưng tôi cũng nghĩ họ sẽ thận trọng để không vạch áo cho người xem lưng." Nhưng phía Pháp đã không chịu nhún đến mức đó. Tháng 1 năm 1947, họ tiến hành phản công rất mạnh mẽ. Đại sứ Pháp tại Washington gửi thư phản đối tới Bộ Ngoại giao Mỹ.

Giới chức Pháp cũng bắt đầu gây khó dễ đối với các hoạt động thương mại của Jersey. Tại London, các cố vấn luật pháp của CFP phát đơn kiện, buộc tội vi phạm hợp đồng và đòi chuyển giao cổ phần trong Aramco của Jersey và Socony cho tất cả các thành viên của IPC. Tình hình bất lợi ở Pháp, một đồng minh Tây Âu chủ chốt, cùng với mối lo ngại không dứt về chống độc quyền đã buộc Bộ Ngoại giao Mỹ tìm một giải pháp thay thế thỏa thuận được chờ đợi đó, một giải pháp vừa có thể thỏa mãn phía Pháp, vừa kiểm soát sự dàn xếp rất đáng ngờ có xu hướng ngày càng tăng giữa các công ty dầu lửa quốc tế lớn. Vai trò tư vấn chủ chốt về các vấn đề dầu lửa trong Bộ Ngoại giao Mỹ thuộc về Paul Nitze, Chủ nhiệm Văn phòng chính sách thương mại quốc tế. Nitze đề xuất Jersey bán cổ phần trong IPC cho Socony rồi một mình tham gia Aramco để tạo ra hai tập đoàn tách biệt tránh tình trạng chồng chéo.

Như vậy, phía Pháp sẽ không thể cáo buộc rằng quyền lợi của họ trong Thỏa thuận Ranh giới Đỏ bị đe dọa. Ông nói thêm, một thỏa thuận như vậy sẽ "kiểm soát xu hướng tăng cường thỏa hiệp giữa các công ty dầu lửa quốc tế" và "kìm chế quá trình củng cố những lợi ích bên ngoài Mỹ đang gia tăng của hai công ty dầu lửa lớn nhất nước này là Jersey và Socony". Hai công ty này đã trả lời rằng đó "là một kế hoạch không thực tế". Và Dean Acheson, Thứ trưởng Ngoại giao Mỹ, đã gạt bỏ ý tưởng của Nitze. Còn có một người chưa lên tiếng – đó là Ibn Saud. Vị vua này cũng phải được tham vấn. Các quan chức của Aramco đã tới Riyadh (thủ đô của Arập Xêút) gặp ông. Họ giải thích với ông rằng "cuộc hôn nhân" của bốn công ty là "điều tự nhiên" và đồng nghĩa với việc vương quốc của ông sẽ có doanh thu lớn hơn từ việc nhượng quyền khai thác dầu. Nhưng Ibn Saud chỉ quan tâm đến một điểm và khăng khăng muốn đạt được nó: cả Jersey và Socony đều không "bị người Anh kiểm soát".

Được cam đoan chắc chắn rằng hai công ty này sẽ hoàn toàn là của người Mỹ, nhà vua cuối cùng đã chấp nhận đề xuất nói trên. Nhưng điều gì sẽ xảy ra nếu người Pháp thắng ở tòa? Họ có thể đòi quyền được tham gia vào Aramco. Và công ty Anh - Iran cũng có thể yêu cầu như vậy. Ibn Saud khẳng định sẽ không chấp nhận một tình huống như vậy. Thỏa thuận phải được điều chỉnh để đề phòng bất trắc này nên cuối cùng đã có thêm một điều khoản linh động thông minh chỉ áp dụng trong trường hợp các công ty của Mỹ thua kiện. Jersey và Socony đã cam kết cho vay 102 triệu đô-la và khoản này sẽ được chuyển thành cổ phần có trị giá 102 triệu đô-la ngay khi có đủ điều kiện pháp lý an toàn.

Như vậy, Jersey và Socony có thể bắt đầu khai thác dầu ngay lập tức dù hai công ty này vốn đã là chủ nhân các mỏ dầu. Ngoài ra, Jersey và Socony sẽ trở thành đối tác trong Công ty đường ống dẫn dầu xuyên các nước Arập Tapline (The Trans-Arabian Pipeline Company). Đổi lại, Socal và Texaco cũng sẽ được trả trước một khoản tiền tính trên mỗi thùng dầu sản xuất ra trong một số năm. Do đó, gộp chung lại và tính trên nhiều năm, Socal và Texaco sẽ thu khoảng 470 triệu đô-la từ việc bán lại 40% cổ phần họ có ở Aramco, tức là vừa thu hồi lại toàn bộ số tiền đầu tư ban đầu vừa đạt được thêm một thỏa thuận tốt đẹp.

dau mo tien bac va quyen luc ky 22
Đường ống dẫn dầu The Trans-Arabian Pipeline

Theo như nhận định sau đó của của Chủ tịch Socal, Gwin Follis, việc bán lại cổ phần cho Jersey và Socony đã nhấc "khỏi vai chúng ta" "khoản đầu tư khổng lồ" cần có cho Tapline. Ban đầu, Jersey và Socony dự định chia đều số cổ phần 40% này. Tuy nhiên, Chủ tịch Socony, do e ngại dầu Trung Đông "không an toàn tuyệt đối" và lo lắng về thị trường, đã lập luận công ty "phải đầu tư nhiều hơn vào Venezuela". Sau khi xem xét, công ty này thấy không cần tới nhiều dầu như vậy và một tỷ lệ cổ phần nhỏ sẽ hợp lý hơn. Do đó, Jersey chỉ nắm giữ 30% cổ phần, bằng số cổ phần của Socal và Texaco, trong khi Socony chỉ có 10%. Phải rất lâu sau đó Socony mới thấy hối tiếc vì đã tính toán quá chi li. Vẫn còn có những lo ngại vào phút chót. Những cân nhắc về việc chống độc quyền vẫn ám ảnh lãnh đạo tất cả các công ty này cho tới khi họ nhận được lời bảo đảm từ Tổng chưởng lý Mỹ: "Trước mắt, không có trở ngại pháp lý nào đối với thỏa thuận này. Đây sẽ là một điều tốt đẹp cho Mỹ."

Nhưng sau đó, đúng như lo ngại lớn nhất của Harry Collier, những rắc rối chính trị ở Đông Địa Trung Hải có khả năng ảnh hưởng đến toàn bộ thỏa thuận, đã trở thành vấn đề nóng bỏng. Tại Hy Lạp đã nổ ra một cuộc nổi dậy do những người cộng sản dẫn đầu trong khi Liên Xô là một mối đe dọa đối với Thổ Nhĩ Kỳ. Người ta cũng lo ngại rằng, cùng với việc Anh rút khỏi khu vực truyền thống của mình tại Trung Đông, ảnh hưởng của phe cộng sản sẽ ngày càng mạnh ở khu vực này. Ngày 11 tháng 3 năm 1947, các giám đốc Socony đã thảo luận về "các vấn đề ảnh hưởng tới Trung Đông".

Tuy nhiên, sự lạc quan đã thắng thế và họ đã tán thành với bản thỏa thuận. Ngày hôm sau, 12 tháng 3 năm 1947, lãnh đạo bốn công ty Mỹ đã gặp mặt và ký kết các văn kiện để đưa vụ giao dịch lịch sử này vào hiệu lực. Quyền khai thác dầu ở Arập Xêút cuối cùng đã "đông kết". Ngày 12 tháng 3 còn là một ngày lịch sử vì Tổng thống Harry Truman đã đọc "bài diễn văn toàn diện" trước một phiên họp toàn thể của Quốc hội Mỹ. Truman đề xuất viện trợ đặc biệt cho Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ để giúp các nước này chống lại các áp lực cộng sản. Là một cột mốc trong cuộc Chiến tranh Lạnh đang nổi lên, bài diễn văn đã khởi xướng học thuyết Truman và mở ra một thời kỳ mới trong chính sách ngoại giao của Mỹ sau chiến tranh. Học thuyết Truman giống một sự trùng hợp ngẫu nhiên với sự hợp tác giữa bốn công ty dầu lửa lớn của Mỹ tại vùng đất Arập Xêút là sự bảo đảm cho sự hiện diện thật sự và lợi ích của Mỹ tại một khu vực rộng lớn trải dài từ Địa Trung Hải đến vịnh Ba Tư.

Lại là Gulbenkian

Vụ CFP vẫn bị treo. Thời gian này, Pháp còn đang theo đuổi nhiều vấn đề chính trị khác với Mỹ và đến tháng 5 năm 1947, một thỏa thuận nâng cao vị thế của phía Pháp tại IPC đã được chấp thuận và đổi lại, CFP sẽ rút lại đơn kiện của mình. Với Gulbenkian, như thường lệ, mọi việc vẫn chưa ngã ngũ. Trong một căn phòng tầng một của khách sạn Aviz sang trọng tại Lisbon, Gulbenkian vẫn giữ thói keo kiệt. Để tiết kiệm, ông không dùng xe hơi và tài xế riêng mà thuê một người lái xe đưa ông ra ngoại thành để đi bộ hàng ngày. Trên đường đi, ông theo dõi chặt chẽ đồng hồ cây số của chiếc xe để chắc chắn mình không phải trả thừa tiền. Một quan chức của Anh nhận định: "Gulbenkian là một người biết giữ lời hứa. Nhưng cái khó là có được lời hứa đó. Khả năng thỏa hiệp không phải là một trong những phẩm chất của ông ta". Vị quan chức này bình luận thêm: "Gulbenkian có quan điểm thật đặc biệt về sự toàn vẹn tài chính của riêng ông, nếu nhìn vào việc nộp thuế.

Trốn thuế là một trong những hoạt động chính của ông ta". Gulbenkian trốn thuế thu nhập ở Pháp và Bồ Đào Nha bằng cách tiếp tục làm việc tại Tòa Công sứ Iran. Để tránh phải nộp thuế tài sản đánh vào ngôi nhà của mình ở Paris, Gulbenkian đã biến một phần nhỏ của nó thành phòng tranh. Và khi bán lại khách sạn Ritz ở Paris, ông khăng khăng đòi có điều khoản quy định dành vĩnh viễn cho ông một phòng ở đây để ông luôn có thể tuyên bố mình đang "quá cảnh" ở Paris, để có thể tiếp tục trốn thuế ở Pháp. Gulbenkian đã sử dụng chiến thuật "bới lông tìm vết" cùng với thái độ bất hợp tác và tập trung hết lực để bảo vệ Thỏa ước Ranh giới đỏ.

Dù phía Pháp đã bãi bỏ đơn kiện của ông thì Gulbenkian vẫn sẵn sàng phơi bày trước công chúng những điều tồi tệ, nếu cần. Ông nộp đơn kiện lên một tòa án của Anh. Jersey và Socony đáp trả bằng các đơn kiện ngược lại. Vụ kiện tụng này đã thu hút sự chú ý của dư luận và giúp Gulbenkian phản công lại Jersey và Socony. Sau cùng, không phải ông mà là các công ty Mỹ phải lo lắng trước Bộ Tư pháp và dư luận Mỹ. Tuy nhiên, sự nổi tiếng cũng có những ảnh hưởng trái chiều và không hề dễ chịu. Vì có dáng người nhỏ bé, Gulbenkian đã đặt xây một cái bục đặc biệt tại nhà hàng khách sạn Aviz để có thể vừa ăn trưa vừa ngắm cảnh. Và do có rất nhiều quảng cáo về chuyện này, "Ông Gulbenkian ở khách sạn Aviz", cùng với đấu bò tót, trở thành điều mà khách du lịch không thể bỏ qua tại Lisbon. Ông phản đối nhưng không thể làm gì để thay đổi được điều đó. Trong khoảng một năm, các nhà đàm phán đi lại như con thoi giữa New York, London và Lisbon để tìm kiếm một thỏa hiệp. Giờ đây, thế hệ kế tiếp của những người làm trong ngành công nghiệp dầu lửa và các luật sư có cơ hội biết sự khó chịu khi làm việc với Gulbenkian. Nubar, con trai Gulbenkian, nhận xét: "Thói quen của cha tôi là không bao giờ đưa ra yêu sách ngay từ đầu nhưng ông là một nhà đàm phán rất giỏi. Ông từng bước, từng bước đưa ra các yêu cầu của mình; khi đã thỏa mãn ở một điểm, ông đưa ra điểm khác, rồi điểm khác nữa nhằm đạt điều mà ông muốn, hoặc ít nhất, những gì mà ông đạt được cũng nhiều hơn những gì mà ông có thể có nếu đưa ra tất cả các yêu sách ngay từ đầu".

Các nhà đàm phán càng gặp nhiều khó khăn hơn vì tính cảnh giác cố hữu của Gulbenkian, một tính cách đã trở thành nỗi ám ảnh. Gulbenkian không tự mình tham gia vào các cuộc họp mà cử bốn đại diện đến dự. Mỗi người trong số họ phải độc lập báo cáo bằng văn bản cho ông mà không được trao đổi hay nói chuyện với nhau. Cùng với việc phân tích đối phương, cách này giúp Gulbenkian kiểm soát và thăm dò hiệu quả gấp đôi mỗi nhà đàm phán của ông. Nhưng về cơ bản, Gulbenkian muốn gì? Một vài người ngờ rằng ông thật sự nhắm vào mục đích có được cổ phần trong Aramco, tuy nhiên Ibn Saud sẽ không bao giờ cho phép điều này xảy ra. Gulbenkian đã giải thích rất đơn giản trước một giám đốc của Socony: Lòng tự trọng của ông bị tổn thương nếu ông không "đạt được một thỏa thuận ở mức tốt nhất có thể". Nói cách khác, ông muốn thu được càng nhiều càng tốt. Với một người bạn Mỹ không làm trong ngành công nghiệp dầu lửa nhưng cũng đam mê nghệ thuật như ông, ông giải thích sâu hơn. Ông đã kiếm được nhiều tiền đến nỗi việc có thêm tiền chẳng còn mấy ý nghĩa. Ông nghĩ về bản thân như cách ông nghĩ về Walter Teagle hai thập kỷ trước đây – giống một kiến trúc sư, thậm chí một họa sỹ, người sáng tạo ra những cấu trúc đẹp đẽ, cân bằng các lợi ích và hài hòa các lực lượng kinh tế.

Đó là những gì đem lại niềm vui cho ông. Những tác phẩm nghệ thuật mà Gulbenkian sưu tập trong suốt cuộc đời đã trở thành bộ sưu tập cá nhân vĩ đại nhất trong thời kỳ hiện đại. Ông gọi đó là "các con" và dường như quan tâm đến chúng hơn cả người con trai của mình. Tuy nhiên, kiệt tác vĩ đại nhất của Gulbenkian là IPC. Đối với Gulbenkian, công ty này là một thiết kế kiến trúc hoàn hảo, như bức họa Trường học Athens của Raphael. Gulbenkian giải thích, nếu là Raphael, ông sẽ coi những người đứng đầu Jersey và Socony như Giroloma Genga, một họa sĩ hạng ba, tầm thường và vô danh, chuyên bắt chước các bậc thầy thời Phục hưng. Dưới áp lực của những tranh cãi không mấy dễ chịu sắp diễn ra tại tòa án ở London, một thỏa thuận với Gulbenkian cuối cùng cũng bắt đầu thành hình và toàn bộ "đoàn lữ hành" gồm những người làm trong ngành công nghiệp dầu lửa và luật sư của họ đã tới Lisbon.

Đầu tháng 11 năm 1948, vào ngày chủ nhật trước ngày thứ hai có cuộc đối chất tại tòa, bản thỏa thuận mới được hoàn thành. Nubar, người con trai lễ phép và biết vâng lời của Gulbenkian, đã đặt một phòng riêng tại khách sạn Aviz, nơi sẽ diễn ra lễ ký kết vào lúc 7 giờ tối và sau đó sẽ có một bữa tiệc mừng. 7 giờ kém 5 phút, sự bàng hoàng trùm lên cả căn phòng khi Gulbenkian thông báo ông đã phát hiện thêm một điểm không được thỏa thuận mới đề cập đến. Thông tin này đã được gửi theo điện báo đến các giám đốc ở London và câu trả lời đang được chờ đợi. Một sự im lặng sững sờ và thất vọng bao trùm khách sạn Aviz. Nhưng thức ăn đã được bày lên bàn và chẳng mấy chốc sẽ nguội đi trong khi chẳng có lợi ích gì nếu không ăn, ít nhất là theo cách nhìn nhận của Nubar Gulbenkian.

Anh ta mời "đoàn lữ hành" ngồi vào bàn. Bữa tối diễn ra thật buồn thảm, mười hai người chỉ dùng hết một chai sâm banh vì không có gì để chúc mừng. Khoảng nửa đêm, các bức điện chấp thuận yêu sách cuối cùng của Gulbenkian được gửi đến từ London. Bản thỏa thuận được đánh máy lại, được Gulbenkian ký vào lúc 1 giờ 30 phút sáng và gửi về London theo đường máy bay. Các quan chức có liên quan được thông báo rằng phiên tòa đã lên lịch vào ngày hôm đó ở London sẽ bị hủy và nhóm người đã mệt lử ở Lisbon kéo nhau đến một quán ăn đêm để ăn mừng bằng bánh sandwich và rượu vang giá rẻ. Hiệp định tập đoàn tháng 11 năm 1948 tái lập IPC đã được đàm phán như thế. Điều Gulbenkian đạt được thêm, cùng với sản lượng khai thác lớn hơn và một số lợi thế khác, là quyền được phân phối nhiều dầu hơn. Ông Năm phần trăm, biệt danh của Gulbenkian, không còn nữa, ông đã trở thành một cái gì đó lớn lao hơn. Bản thân hiệp định đã là "biểu tượng của sự rắc rối".

Một lãnh đạo Công ty Dầu lửa Anh - Iran (sau này trở thành chủ tịch công ty) tuyên bố: "Chúng ta vừa ký kết thành công một thỏa thuận hoàn toàn tối nghĩa đối với tất cả mọi người". Nhưng theo một luật sư của Gulbenkian, sự phức tạp đó có một lợi thế: "Sẽ không bao giờ có kiện tụng về những văn bản này, vì chẳng ai hiểu được chúng". Sau khi sự ngoan cố của Calouste Gulbenkian thắng thế và bản Hiệp định tập đoàn được ký kết, Thỏa thuận Ranh giới đỏ cũng chấm dứt nên mối đe dọa pháp lý đối với sự tham gia của Jersey và Socony vào Aramco không còn nữa. Đây là một cuộc chiến đấu lâu dài và khốn khổ mà thông qua đó, hai công ty này đã giành được quyền vào Arập Xêút. Một người tham gia nhận định: "Nếu nối các cuộc thương thảo với nhau, chúng sẽ dài đến tận mặt trăng".

Tháng 12 năm 1948, hai năm rưỡi sau cuộc đàm phán đầu tiên, các khoản vay của Jersey và Socony được chuyển thành các khoản thanh toán và vụ sát nhập vào Aramco cuối cùng đã hoàn thành. Một doanh nghiệp mới, tương xứng hơn với trữ lượng dầu lửa của Arập Xêút, đã xuất hiện. Với việc hoàn tất thỏa thuận, Công ty Aramco thuộc sở hữu của Jersey và Socony, cũng như của Socal và Texaco, và là một công ty 100% của Mỹ. Về phần Gulbenkian, ông một lần nữa bảo vệ thành công thành quả sáng tạo tuyệt vời của mình, cả IPC và vị trí của ông, trước sức mạnh kết hợp của các công ty dầu lửa quốc tế. Cuộc trình diễn tài năng cuối cùng của Gulbenkian đã đem lại cho ông thêm hàng trăm triệu đô-la.

Bản thân ông tiếp tục sống ở Lisbon thêm sáu năm nữa, bị cuốn vào những tranh cãi liên tục với các đối tác trong IPC và viết đi viết lại chúc thư của mình. Bảy năm sau đó, năm 1955, Gulbenkian qua đời ở tuổi 85 và để lại một khối tài sản khổng lồ, một bộ sưu tập nghệ thuật kỳ vĩ và đáng nói hơn cả là những tranh chấp, kiện tụng kéo dài về di chúc và những tài sản của ông. Côoét Một công ty khác của Mỹ, Công ty dầu lửa Vùng Vịnh (Gulf Oil), đang phải đối mặt với khó khăn ở Trung Đông. Sở hữu một nửa Công ty dầu lửa Côoét, công ty này bị bó buộc về một số mặt khi cạnh tranh với đối tác của mình – Công ty Anh - Iran – đặc biệt là ở Ấn Độ và Trung Đông. Công ty Gulf chẳng biết bán dầu của mình ở đâu vì chỉ có duy nhất hệ thống ở châu Âu và hệ thống này thậm chí không đáp ứng đủ chỉ một phần nhỏ của cơn thủy triều dầu lửa sắp dâng lên nhanh chóng ở Côoét.

Công ty Gulf cần có điểm tiêu thụ, chủ yếu là ở châu Âu. Do đó, Đại tá J. F. Drake, Chủ tịch công ty, đã tiến hành tìm kiếm thị trường. Câu trả lời tốt nhất cho vấn đề của Gulf chẳng mấy chốc đã trở nên rõ ràng: Tập đoàn Shell của Vương quốc Hà Lan. Tập đoàn này sở hữu một trong hai hệ thống thị trường lớn nhất Tây bán cầu, đặc biệt là ở châu Âu. Và không giống các đối thủ của mình, Shell chỉ được tiếp cận rất ít đối với dầu Trung Đông. Theo như lời giải thích của Drake trước Bộ Ngoại giao Mỹ, một thỏa thuận "giữa Gulf thừa dầu thô nhưng thiếu thị trường và Shell thừa thị trường nhưng thiếu dầu thô" sẽ rất tuyệt vời. Hai công ty này đã mở ra một thỏa thuận mua và bán có một không hai.

Sự kết hợp như hình với bóng giữa hai công ty sẽ cho phép dầu ở Côoét của Gulf chảy vào hệ thống lọc dầu và thị trường của Shell thông qua một hợp đồng dài hạn, ban đầu là một thỏa thuận có hiệu lực trong vòng 10 năm rồi sau đó sẽ được gia hạn thêm 15 năm. Tổng khối lượng dầu trong suốt thời gian hợp đồng có hiệu lực dự tính lên tới 1/4 trữ lượng được xác nhận có trong các mỏ dầu của Gulf ở Côoét. Đổi lại, Gulf sẽ đáp ứng 30% nhu cầu của Shell ở Đông bán cầu. Không ai ngờ nghệch đến nỗi đặt một mức giá cố định trong suốt một thời gian dài và không có gì chắc chắn như vậy, nên hai công ty đã đưa ra một giải pháp sáng tạo với cái tên "netback pricing" (Thỏa thuận liên kết giá).

Theo hợp đồng, lợi nhuận sẽ được chia theo tỷ lệ 50-50, lợi nhuận ở đây được định nghĩa là "giá bán cuối cùng" trừ đi tất cả các chi phí. Các chương trình và công thức kế toán để tính toán lợi nhuận cuối cùng phức tạp đến nỗi chúng chiếm tới hơn một nửa trong tổng số 170 trang in của hợp đồng. Trên thực tế, Gulf hầu như không có một lựa chọn nào khác ngoài Shell. Sản lượng dầu ở Côoét chắc chắn sẽ tăng lên nhanh chóng vì Shah nước này sẽ đòi phải tăng sản lượng, đặc biệt khi ông nhận thấy sản lượng dầu ở các nước láng giềng tăng cao. Rất ít hệ thống có thể tiêu thụ một lượng dầu lớn đến như thế và có lẽ Shell là trường hợp duy nhất. Ngoài ra, có một khía cạnh trong thỏa thuận chắc chắn sẽ sớm được Bộ Ngoại giao Mỹ thông qua.

Theo Đại tá Drake, đó là việc 50% lợi nhuận thu được từ dầu lửa Côoét sẽ được chia cho Gulf khi công ty này "hoàn toàn thuộc sở hữu của Mỹ". Nói ngắn gọn, với thỏa thuận của Aramco rồi thỏa thuận Shell-Gulf, những lợi ích dầu mỏ của Mỹ tại Trung Đông đã được bảo vệ. Thỏa thuận này cũng giúp Shell kiểm soát một phần quan trọng trong tổng sản lượng dầu của Côoét. Bộ Ngoại giao nhận định: "Shell không chỉ đơn thuần là một người mua dài hạn mà còn là một đối tác trong quyền khai thác dầu". Iran Thỏa thuận dầu lửa thứ ba sau chiến tranh có liên quan đến Iran. Trong khi ở London vào cuối hè, đầu thu 1946 diễn ra những cuộc đàm phán đầu tiên nhằm hủy bỏ Thỏa thuận Ranh giới đỏ, đại diện của Jersey và Socony đã bí mật đưa ra khả năng ký kết một hợp đồng dài hạn với Chủ tịch Công ty Anh - Iran, Ngài William Fraser, về dầu mỏ của Iran. Chắc chắn William đã lĩnh hội ý tưởng này. Cũng như Gulf, Anh - Iran không đủ khả năng tài chính để nhanh chóng xây dựng một hệ thống lọc dầu và cung cấp sản phẩm tại thị trường châu Âu. Công ty này lo ngại đến một lúc nào đó sẽ bị loại ra khỏi châu Âu trước nguồn dầu giá rẻ dồi dào của Aramco.

Tuy nhiên, những tính toán chính trị là lý do khiến Công ty Anh ‑ Iran tăng cường mối quan hệ đối tác lâu dài với các công ty Mỹ, họ muốn dựa vào đó để củng cố vị trí của mình. Trong lúc này, Iran đang bị đặt dưới áp lực lớn và liên tục từ phía Liên Xô. Vào nửa sau Chiến tranh thế giới thứ hai, Liên Xô yêu cầu được quyền khai thác dầu ở Iran và quân Liên Xô tiếp tục chiếm đóng Azerbaijan ở phía Bắc Iran sau khi chiến tranh kết thúc và Stalin chỉ cho rút quân khỏi đây vào mùa xuân năm 1946, dưới áp lực gay gắt của Mỹ và Anh. Cuộc khủng hoảng Iran năm 1946 này về thực chất là cuộc đối đầu Đông - Tây đầu tiên trong cuộc Chiến tranh Lạnh. Đầu tháng 4 năm 1946, vào thời điểm Liên Xô bắt đầu rút quân, Đại sứ Mỹ tại Matxcơva có một cuộc gặp gỡ riêng với Stalin tại điện Kremlin lúc nửa đêm. "Liên Xô muốn gì và dự định sẽ tiến xa đến đâu?", vị đại sứ Mỹ hỏi. "Chúng tôi sẽ không tiến xa hơn đâu".

Đây không phải là một câu trả lời thật sự có tính trấn an. Stalin luôn muốn Liên Xô nỗ lực mở rộng ảnh hưởng ở Iran để bảo vệ vị thế dầu lửa của mình. Ông nói: "Các mỏ dầu ở Baku là nguồn cung cấp chính của chúng tôi, những mỏ này nằm gần biên giới Iran và rất dễ bị đe dọa". Stalin, "người làm thuê cho cuộc cách mạng" Baku bốn thập kỷ trước, nói thêm: "Những kẻ phá hoại – thậm chí một người với chỉ một hộp diêm – cũng có thể gây ra những tổn thất to lớn. Chúng tôi sẽ không đặt nguồn cung cấp dầu của mình vào thế nguy hiểm". Trên thực tế, Stalin quan tâm đến dầu ở Iran. Sản lượng dầu của Liên Xô năm 1945 chỉ bằng 60% so với năm 1941.

dau mo tien bac va quyen luc ky 22
James Terry Duce

Trong chiến tranh, Liên Xô huy động thật lực các nguồn thay thế, từ việc nhập khẩu dầu của Mỹ đến việc sử dụng xe tải chạy bằng than củi. Không lâu sau chiến tranh, Stalin chất vấn Bộ trưởng dầu lửa Nikolai Baibakov (người sau đó đã chèo lái kinh tế Liên Xô trong vòng hai thập kỷ, cho đến tận năm 1985, khi Mikhail Gorbachew thay ông). Vẫn phát âm sai tên của Baibakov như thường lệ, Stalin yêu cầu được biết Liên Xô sẽ phải làm gì với tình hình dầu lửa rất tồi tệ của đất nước. Các mỏ dầu của Liên Xô đã bị phá hoại nghiêm trọng, đang cạn kiệt và hầu như chẳng có hứa hẹn gì cho tương lai. Nền kinh tế sẽ được tái thiết ra sao nếu không có dầu? Stalin chỉ rõ rằng những nỗ lực cần phải được nhân đôi. Nhằm mục đích này, Liên Xô yêu cầu thành lập một công ty cùng thăm dò dầu với Iran. Như vậy, chắc chắn dầu là mục tiêu của Liên Xô ở Iran nhưng, xét theo bất kỳ nghĩa nào, chưa phải là mục đích duy nhất và quan trọng nhất. Năm 1940, trong bối cảnh Hiệp ước Xô - Đức, Bộ trưởng Ngoại giao Liên Xô Vyacheslav Molotov đã từng tuyên bố rằng "khu vực phía nam Batum và Baku về phía vịnh Ba Tư là trung tâm của những tham vọng Liên Xô".

Khu vực này có một cái tên – Iran. Stalin sẽ tìm cách gây dựng lãnh địa của mình ở các quốc gia láng giềng, mở rộng sức mạnh và ảnh hưởng của Liên Xô ở bất cứ nơi nào có thể. Trong nỗ lực vươn tới Iran và về phía Vùng Vịnh, Stalin cũng theo đuổi một mục tiêu truyền thống trong chính sách đối ngoại của Liên Xô, một mục tiêu đã có gần một thế kỷ rưỡi tuổi đời. Đây chính là động cơ thúc đẩy Chính phủ Anh ủng hộ việc nhượng quyền khai thác dầu tại Iran cho William D’Arcy Knox năm 1901 như một biện pháp cản bước tiến của Liên Xô. Sau khi rút quân khỏi phía Bắc Iran năm 1946, Liên Xô vẫn cố gắng giành lấy một vị trí có lợi trong khu vực này và tìm cách thành lập một liên doanh dầu lửa với Iran. Cùng lúc đó, Đảng Cộng sản Iran Tudeh phát động một chiến dịch biểu tình và gây áp lực chính trị để giành quyền lực lớn hơn ở chính phủ trung ương – trong số đó phải nhắc đến cuộc đình công và biểu tình lớn đã làm một số người thiệt mạng tại nhà máy lọc dầu Abadan của Công ty Anh - Iran.

Tình hình Iran không ổn định, các thể chế chính trị nước này còn yếu và có nhiều khả năng sẽ xảy ra một cuộc nội chiến hoặc thậm chí Iran sẽ bị khối Xô Viết nuốt chửng. Cả Chính phủ Anh và Mỹ đều cố gắng giúp Iran bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ. London rất cương quyết, bởi vị thế dầu lửa của công ty Anh - Iran tại đây là món trang sức quan trọng cần phải được gìn giữ bằng mọi giá. Trước tình hình bấp bênh và tầm quan trọng của vấn đề, việc các công ty lớn của Mỹ có thêm lợi ích dầu lửa trực tiếp ở Iran có một giá trị đáng kể nào đó. Những biến động về chính trị và thương mại đã thúc đẩy sự thỏa hiệp giữa Công ty Anh - Iran và hai công ty Mỹ là Jersey và Socony. Tháng 9 năm 1947, ba công ty này đã ký kết một hợp đồng kéo dài 20 năm. Với sự hoàn thành của ba thỏa thuận lớn – Aramco, Gulf-Shell và các hợp đồng dài hạn với Iran – các cơ chế, tư bản và hệ thống thị trường đã sẵn sàng vận chuyển khối lượng dầu khổng lồ của Trung Đông sang thị trường châu Âu. Trong thế giới thời kỳ hậu chiến, "trọng tâm" dầu lửa – không chỉ đối với các công ty dầu lửa mà cả các quốc gia phương Tây – thực ra đang dịch chuyển sang Trung Đông. Kết quả của sự dịch chuyển này sẽ rất quan trọng với tất cả những ai có liên quan.

Khủng hoảng năng lượng ở châu Âu

Khối lượng dầu lửa đến từ Trung Đông tăng mạnh có ý nghĩa sống còn đối với việc tái thiết một châu Âu tiêu điều sau chiến tranh. Sự tàn phá và rối loạn in dấu ấn ở khắp mọi nơi. Nước Đức, công trường trung tâm của châu Âu, gần như không còn hoạt động. Trên khắp châu Âu, thức ăn và nguyên vật liệu thô vô cùng thiếu thốn, các mô hình và tổ chức thương mại được thiết lập trước đó bị phá vỡ, lạm phát tăng cao, thiếu nghiêm trọng đồng đô-la Mỹ tối cần thiết để nhập khẩu những mặt hàng thiết yếu. Đến năm 1946, châu Âu bị kẹt trong một cuộc khủng hoảng năng lượng sâu sắc, vì thiếu than trầm trọng. Và mùa đông dài và lạnh giá nhất thế kỷ XX đã đẩy tình trạng này tới điểm khủng hoảng.

Tại Anh, sông Thames chảy qua Winsdor đóng băng. Trên khắp nước Anh, nguồn cung than thiếu hụt đến nỗi các nhà máy điện có công suất cao phải đóng cửa, điện cho công nghiệp hoặc bị giảm thiểu hoặc bị cắt hoàn toàn. Tỷ lệ thất nghiệp tăng gấp sáu lần và sản xuất công nghiệp gần như đình trệ ba tuần liền – điều mà ngay cả những trận bom của Đức cũng chưa bao giờ làm được. Nước Anh, vốn đã quá mệt mỏi vì chiến tranh, trở nên kiệt quệ khi phải đối mặt với tình trạng thiếu nguyên liệu ngoài dự kiến. Vai trò đế quốc trở thành một gánh nặng quá sức. Trong những tuần lễ ảm đạm, lạnh giá và có tính chất then chốt của tháng một năm 1947, chính phủ Công đảng của Clement Attlee đã chuyển vấn đề khó giải quyết liên quan đến Palestine lên Liên hợp quốc và tuyên bố sẽ trao trả độc lập cho Ấn Độ.

Ngày 21 tháng một, Chính phủ Anh tuyên bố với Mỹ là không còn đủ khả năng vực dậy nền kinh tế Hy Lạp và đề nghị Mỹ đảm nhận vai trò này, đồng thời thông qua đó nắm giữ những trách nhiệm lớn hơn ở vùng Trung Cận Đông. Tuy nhiên, tình hình vẫn xấu đi. Trên khắp châu Âu, kinh tế hỗn loạn vì thời tiết lạnh giá và cuộc khủng hoảng năng lượng mùa đông năm 1947 càng làm trầm trọng thêm sự thiếu thốn đồng đô-la, kìm hãm khả năng nhập khẩu những mặt hàng thiết yếu và làm tê liệt nền kinh tế của châu lục này. Bước tiến đầu tiên nhằm ngăn chặn sự đổ vỡ hàng loạt đã được thực hiện vào tháng 6 năm 1947, tại Harvard Yard ở Cambridge, Masachusetts. Trong lễ phát bằng tốt nghiệp của Đại học Harvard, Ngoại trưởng Mỹ George Marshall đã trình bày ý tưởng về chương trình viện trợ nước ngoài quy mô lớn nhằm vực dậy và tái thiết các nền kinh tế Tây Âu trong khuôn khổ châu lục và lấp đầy khoảng cách do sự thiếu hụt đồng đô-la gây ra. Ngoài ra, Chương trình tái thiết châu Âu, sau này được biết đến với tên gọi Kế hoạch Marshall, đã trở thành nhân tố trung tâm trong chính sách ngăn chặn sức mạnh Xô Viết. Một trong số những vấn đề đầu tiên cần giải quyết là cuộc khủng hoảng năng lượng ở châu Âu. Không có đủ than, năng suất lao động thấp và lực lượng lao động thiếu tổ chức. Ngoài ra, tại nhiều quốc gia, Đảng Cộng sản nắm vai trò lãnh đạo trong các tổ chức công đoàn của công nhân mỏ. Là một phần của giải pháp này, dầu có thể thay thế than trong các nồi hơi công nghiệp, các nhà máy phát điện, và hiển nhiên, cũng là nguồn nhiên liệu duy nhất cho máy bay, ôtô và xe tải. Một báo cáo của Chính phủ Mỹ vào thời kỳ này nhận định: "Nếu không có dầu, Kế hoạch Marshall không thể thực hiện được".

Những người điều hành Chương trình tái thiết châu Âu ở Paris không thật sự lo lắng về sự thiếu hụt dầu lửa và trông đợi vào nguồn cung cấp của các công ty. Nhưng dầu vẫn phải nhập khẩu nên nó không chỉ là một phần của giải pháp mà còn là một phần của vấn đề. Gần một nửa dầu mỏ của châu Âu do các công ty Mỹ cung cấp, điều đồng nghĩa với việc châu Âu phải có đô-la để trả tiền mua dầu. Đối với hầu hết các nước của châu lục này, dầu là hạng mục lớn nhất trong ngân sách đô-la của họ. Theo ước tính năm 1948, hơn 20% tổng số viện trợ thuộc Kế hoạch Marshall trong vòng bốn năm sau đó sẽ được sử dụng vào việc nhập khẩu dầu và các phương tiện vận tải dầu. Giá cả trở thành một vấn đề gây tranh cãi. Chảy máu đô-la vì mua dầu càng được nói đến nhiều vào năm 1948, khi giá dầu tăng đến mức đỉnh điểm của thời kỳ hậu chiến. Ngoại trưởng Anh Ernest Bevin nói với Đại sứ Mỹ: "Thật không may là khi người Mỹ bỏ tiền giúp châu Âu, giá dầu tăng cao đã vô hiệu hóa những nỗ lực của họ ở mức độ đáng kể". Việc chảy máu đồng đô-la dẫn tới tranh cãi gay gắt về việc bao nhiêu "dầu đô-la" (từ các công ty Mỹ) và "dầu bảng" (từ các công ty Anh) sẽ đến với Anh và phần còn lại của châu Âu. Thêm vào đó là cuộc chiến với các công ty dầu lửa về vấn đề giá cả, đặc biệt là cho khối lượng dầu nhập ngày càng nhiều từ Trung Đông, về việc những mức giá đã thiết lập có đủ tính cạnh tranh hay không, có thể và nên giảm xuống hay không. Cuối cùng, sau nhiều tranh cãi nảy lửa, giá dầu đã được giảm xuống dưới mức giá chuẩn tại bờ Vịnh Mỹ. Điều này đặt dấu chấm hết cho hiệp định giá cả đã được thiết lập hai thập kỷ trước đó tại lâu đài Achnacarry, vết tích cuối cùng của hệ thống "As-Is" trước chiến tranh.

Tuy nhiên, khi những cuộc bàn cãi qua đi, sự thật cho thấy Kế hoạch Marshall đã tạo ra và thúc đẩy một chuyển biến sâu rộng ở châu Âu – sự chuyển dịch từ một nền kinh tế dựa vào than sang một nền kinh tế dựa trên dầu nhập khẩu. Sự thiếu hụt trầm trọng nguồn cung than vì những cuộc đấu tranh và đình công trong ngành mỏ hóa ra lại thúc đẩy mạnh mẽ sự chuyển biến này. Bộ trưởng Tài chính Anh Hugh Dalton nói với Marshall: "Đây không phải là điều đáng mừng nhưng nhập khẩu thêm dầu là cần thiết". Các chính sách của chính phủ cũng khuyến khích các nhà máy điện và công nghiệp chuyển từ dùng than sang dùng dầu. Nhờ nguồn cung dồi dào và có chi phí thấp từ Trung Đông, dầu có thể cạnh tranh với than về mặt giá cả.

Cạnh tranh và xâu xé nhau để mua than là chuyện thường xuyên xuất hiện trên mặt báo, trong khi dầu mỏ được phân phối hiệu quả và không gây ra tranh chấp, đó là sự khác biệt lớn lao mà các nhà công nghiệp không thể không nhận ra khi quyết định chọn nhiên liệu nào. Ở bất cứ nơi nào có thể, các công ty dầu lửa đều chiếm giữ các thị trường mới, cả trong công nghiệp và các hộ gia đình, nơi có một sáng kiến mang tính cách mạng là lò sưởi trung tâm. Theo lời của một giám đốc của Shell: "Người Anh đã bắt đầu nhận ra rằng lạnh lùng chẳng có ích lợi gì và không có lý do gì để không tranh thủ sự thân thiện của những người anh em Mỹ và Canada." Mặc dù châu Âu vẫn còn là một nền kinh tế dựa vào than, nhưng dầu ngày càng trở nên quan trọng, đặc biệt là trước nhu cầu năng lượng gia tăng. Đây là nơi cần đến rất nhiều nguồn dầu mới của Trung Đông. Năm 1946, 77% dầu của châu Âu được nhập từ Tây bán cầu; năm 1951, người ta chờ đợi một sự chuyển biến lớn với 80% lượng dầu đến từ Trung Đông. Hòa âm giữa nhu cầu của châu Âu và sự phát triển của ngành công nghiệp dầu lửa Trung Đông đồng nghĩa với một sự kết hợp mạnh mẽ và kịp thời.

Dầu lửa đến với thị trường?

Có nhiều vấn đề cần giải quyết khi muốn đưa một lượng dầu lớn ra thị trường. Aramco và bốn công ty mẹ vẫn tiếp tục đấu tranh để xây dựng Tapline vận chuyển dầu từ Arập Xêút sang Địa Trung Hải. Nhưng vào thời điểm đó, nguồn thép cho việc làm đường ống rất hạn chế và chủ yếu vẫn do Chính phủ Mỹ kiểm soát. Phần lớn sản lượng thép của Mỹ phải được phân bổ cho công trình khổng lồ này. Các công ty dầu lửa độc lập và các nghị sĩ quốc hội là đồng minh của họ tìm mọi cách cản trở vì lo ngại một khối lượng lớn dầu mỏ với giá rẻ hơn sẽ từ nước ngoài tràn vào. Chính phủ Truman lại cho rằng dầu Trung Đông có ý nghĩa quan trọng đối với Kế hoạch Marshall và hoàn toàn ủng hộ việc xây dựng Tapline. Một quan chức Bộ Ngoại giao Mỹ cảnh báo, nếu không có hệ thống ống dẫn này, "chương trình tái thiết châu Âu sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng". Một trở ngại khác là thái độ cứng rắn của các nước có đường ống đi qua, đặc biệt là Syria. Tất cả đều đòi mức phí quá cảnh có thể nói là cắt cổ.

Đây cũng là thời điểm sự chia cắt Palestine để thành lập nhà nước Israel làm xấu thêm mối quan hệ giữa Mỹ với các quốc gia Arập. Sự xuất hiện của một nhà nước Do Thái được Mỹ công nhận tức thì lại càng đe dọa các quyền quá cảnh của đường ống này. Cũng như bất kỳ nhà lãnh đạo Arập nào khác, Ibn Saud có thái độ thẳng thắn và cứng rắn đối với chủ nghĩa phục quốc Do Thái và Israel. Ông cho rằng người Do Thái đã là kẻ thù của người Arập từ thế kỷ XVII. Ông cảnh báo Truman rằng việc Mỹ ủng hộ nhà nước Do Thái sẽ là một đòn chết người đánh vào các lợi ích của Mỹ ở thế giới Arập, và nếu một nhà nước Do Thái được thành lập thì người Arập "sẽ vây hãm nhà nước này cho tới khi nó chết vì đói kém".

Khi đến thăm trụ sở Aramco ở Dhahran năm 1947, ông đã khen cam mà người ta mời mình nhưng hỏi thẳng thừng đó là cam Palestine hay Israel, và được bảo đảm rằng cam đến từ California. Để phản đối sự ra đời của một nhà nước Do Thái, Ibn Saud nắm giữ một "con át chủ bài": ông có thể trừng phạt Mỹ bằng cách tước quyền khai thác dầu của Aramco. Khả năng này là lời báo động không chỉ với những công ty liên quan mà dĩ nhiên là cả với Bộ Ngoại giao và Bộ Quốc phòng Mỹ. Nhưng đã có động lực cho sự ra đời của Israel. Năm 1947, Ủy ban đặc biệt của Liên hợp quốc về vấn đề Palestine khuyến nghị việc chia cắt đất nước này. Khuyến nghị được Đại hội đồng và Cơ quan Do Thái chấp nhận nhưng bị người Arập bác bỏ. Một "Đội quân giải phóng" Arập đã chiếm Galilee và tấn công khu vực của người Do Thái ở Jerusalem. Palestine chìm trong bạo lực. Năm 1948, không còn lựa chọn nào khác, Anh đã từ bỏ sự ủy trị của mình, rút quân và chính quyền ra khỏi nước này, đẩy Palestine vào tình trạng vô chính phủ. Ngày 14 tháng 5 năm 1948, Hội đồng dân tộc Do Thái đã tuyên bố thành lập nhà nước Israel. Nhà nước này gần như ngay lập tức được Liên Xô, và không lâu sau đó là Mỹ, công nhận. Liên đoàn Arập đã tổ chức một cuộc tổng tấn công. Cuộc chiến tranh đầu tiên giữa người Arập và Israel bắt đầu. Một vài ngày sau khi Israel tuyên bố thành lập nhà nước, James Terry Duce thuộc Aramco đã thông báo với Ngoại trưởng Marshall rằng: "Trong một số trường hợp, ông ta (Ibn Saud) có thể buộc phải áp dụng lệnh trừng phạt đối với quyền khai thác dầu của Mỹ… không phải vì ông ta muốn làm vậy mà vì áp lực từ dư luận Arập lên ông ta lớn đến mức ông ta không thể tiếp tục kháng cự được nữa".

Tuy nhiên, một nghiên cứu được Bộ Ngoại giao Mỹ khẩn trương thực hiện lại phát hiện ra rằng, mặc dù có trữ lượng dầu lớn, Trung Đông, tính cả Iran, chỉ cung cấp 6% nguồn dầu thế giới nên cắt giảm một lượng tiêu thụ như vậy "có thể diễn ra mà không gây ra khó khăn đáng kể đối với bất kỳ nhóm người tiêu dùng nào". Đương nhiên là Ibn Saud có thể tước quyền khai thác dầu nhưng ông sẽ phải đối mặt với những nguy cơ lớn, vì Aramco là nguồn cung duy nhất cho sự thịnh vượng nhanh chóng của ông và vì một mối quan hệ bền chặt hơn với Mỹ mang lại sự bảo đảm nền tảng cho sự toàn vẹn lãnh thổ và nền độc lập của Arập Xêút. Vốn luôn ngờ vực người Anh, ông lo ngại London có thể đang bảo trợ một liên minh mới để bảo vệ người Hashemites đã bị ông đánh đuổi khỏi Mecca hai thập kỷ trước đó, như đã từng làm sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, và giúp họ chiếm lại phần phía tây của đất nước ông.

Đối với Ibn Saud, người Heshemite là một kẻ thù thậm chí còn kinh khủng hơn dân Do Thái. Thêm vào đó, Liên Xô và những người cộng sản cũng là một mối đe dọa rất nguy hiểm, xét về áp lực của Liên Xô lên phía bắc và ảnh hưởng của hoạt động cộng sản trong thế giới Arập. Thực ra, dù phải đối mặt với những nguy cơ đến từ người Hashemites và phe cộng sản, Ibn Saud vẫn tạo được áp lực đối với Mỹ và thậm chí là cả Anh vào cuối năm 1948 và trong năm 1949 để có một hiệp định phòng thủ ba bên. Công sứ Anh tại Arập Xêút đã nhận định trong bản báo cáo thường niên gửi về London: "Nhiều người Arập cho rằng Israel đã trở thành một thực tế không thể phủ nhận nên Chính phủ Arập Xêút phải chấp nhận sự tồn tại của nhà nước này nhưng vẫn giữ thái độ thù địch đối với chủ nghĩa Do Thái." Ibn Saud thấy hoàn toàn có thể tách bạch Aramco, một doanh nghiệp hoàn toàn có tính chất thương mại thuộc sở hữu của bốn công ty tư nhân, và chính sách của Chính phủ Mỹ ở đâu đó trong khu vực này.

Khi các nước Arập khác tuyên bố Arập Xêút nên tước quyền khai thác dầu để trả đũa Mỹ và chứng tỏ sự liên minh với sự nghiệp của người Arập, Ibn Saud đáp rằng thu nhập từ việc nhượng quyền khai thác dầu đã giúp đưa Arập Xêút trở thành "một quốc gia hùng mạnh hơn, có thể hỗ trợ tốt hơn các nhà nước Arập láng giềng trong việc chống lại những tham vọng của người Do Thái". Trong khi cuộc chiến giữa người Do Thái và người Arập đang diễn ra ở Palestine, việc khai thác dầu vẫn tiếp tục mạnh mẽ ở Arập Xêút và đường ống Tapline được tiến hành xây dựng. Cả hệ thống được hoàn thành vào tháng 9 năm 1950 nhưng phải mất đến hai tháng sau đó, dầu mới dâng đầy đường ống.

Tháng 11, dầu bắt đầu tới Sidon ở Libăng, trạm Địa Trung Hải cuối cùng, nơi dầu được bơm vào các tàu chở dầu để tiếp tục hành trình tới châu Âu. Chiều dài 1.040 dặm của Tapline đã thay thế quãng đường 7.200 dặm trên biển từ vịnh Ba Tư qua kênh đào Suez. Lượng dầu chuyển qua Tapline hàng năm tương đương với lượng dầu mà sáu tàu chở dầu vận chuyển liên tục từ vịnh Ba Tư, qua kênh đào Suez, tới Địa Trung Hải. Dầu đi qua đường ống này sẽ bảo đảm nhiên liệu cho quá trình tái thiết châu Âu. Không còn là "vùng xa": Thước đo an ninh mới Nửa sau thập niên 1940, sự trùng hợp giữa chính trị và kinh tế đã tạo ra một trọng điểm chiến lược mới cho cả Chính phủ Anh và Mỹ. Nước Anh, dù đã rút khỏi những khu vực xa xôi, vẫn không thể quay lưng lại với Trung Đông. Liên Xô đang gây áp lực lên "bậc phía bắc" – Hy Lạp, Thổ Nhĩ Kỳ và đặc biệt là Iran. Iran, Côoét và Iraq là những nguồn cung dầu chính của Anh. Việc duy trì ảnh hưởng trong khu vực này sẽ bảo đảm an ninh quân sự và cổ tức từ Công ty Anh - Iran, nguồn thu nhập chính của Bộ Tài chính Anh.

Theo lời Ngoại trưởng Anh Bevin trước Ủy ban quốc phòng nội các: "Nếu không có Trung Đông và dầu của khu vực này", Anh sẽ "không còn hy vọng đạt được mức sống mà chúng ta đang hướng tới". Trong khi trọng tâm của Anh bị thu hẹp thì những triển vọng và cam kết lại có biến chuyển theo hướng mở rộng cho Mỹ. Sẽ không có Tổng thống Mỹ nào còn nói, như Franklin Roosevelt năm 1941, rằng Arập Xêút là một cánh đồng hơi xa. Mỹ đang trở thành một xã hội ngày càng phụ thuộc vào dầu, và không còn tự đáp ứng được nhu cầu của mình bằng sản xuất nội địa. Cuộc chiến tranh thế giới vừa kết thúc đã chứng tỏ dầu là vấn đề trung tâm và quan trọng như thế nào đối với sức mạnh quốc gia. Các nhà lãnh đạo và hoạch định chính sách của Mỹ cũng đang dần hướng đến một định nghĩa rộng hơn về an ninh quốc gia – một định nghĩa phản ánh thực tế cán cân lực lượng sau chiến tranh, xung đột gia tăng với Liên Xô và sự thật rõ ràng rằng sức mạnh tiềm ẩn đang chuyển từ Anh sang Mỹ, quốc gia đến lúc này đã trở thành cường quốc số một thế giới.

Chủ nghĩa bành trướng của Liên Xô có thể sẽ đưa Trung Đông lên vũ đài trung tâm. Đối với Mỹ, tài nguyên dầu lửa của khu vực này đã trở thành một lợi ích không kém phần quan trọng so với độc lập của Tây Âu. Do vậy, những mỏ dầu của Trung Đông cần phải được gìn giữ và bảo vệ ở phía Tây của Bức màn sắt để bảo đảm sự sống còn về kinh tế của cả phương Tây. Các nhà chiến lược quân sự luôn quan tâm tới việc bảo vệ các mỏ dầu này trước các cuộc "chiến tranh nóng" và họ cũng đã nghĩ đến cách phá hủy chúng khi xảy ra chiến tranh. Tuy nhiên, trong Chiến tranh Lạnh, nguồn dầu nói trên sẽ có giá trị rất lớn và cần phải làm bất cứ điều gì để ngăn chặn thiệt hại tại các mỏ dầu này. Arập Xêút đã trở thành trọng tâm hàng đầu của các nhà hoạch định chính sách Mỹ. Năm 1948, một quan chức Mỹ đã phát biểu: "Đây có thể là chiến lợi phẩm kinh tế lớn nhất trên thế giới trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài".

Mỹ và Arập Xêút đang thúc đẩy một mối quan hệ mật thiết. Tháng 10 năm 1950, Tổng thống Harry Truman viết một bức thư cho vua Ibn Saud: "Tôi muốn nhắc lại với Đức vua lời cam đoan mà Ngài đã được nghe nhiều lần trước đây, rằng Mỹ quan tâm đến việc gìn giữ nền độc lập và sự toàn vẹn lãnh thổ của Arập Xêút. Sẽ không một mối đe dọa nào đối với vương quốc của Ngài lại không lập tức trở thành một vấn đề có liên quan trực tiếp đến Mỹ." Đây có thể coi như một sự bảo đảm. Mối quan hệ đặc biệt đang nổi lên phản ánh sự đan xen của mối quan tâm chung và riêng, giữa thương mại và chiến lược. Mối quan hệ này được thúc đẩy cả ở cấp chính phủ và thông qua Aramco, công ty đã trở thành một cơ chế phục vụ không chỉ việc khai thác dầu mà còn phục vụ sự phát triển tổng thể của Arập Xêút, dù công ty này bị cô lập trong nền văn hóa Arập và vẫn bị bó buộc trong giới hạn quy định của nhà nước Arập Xêút. Liên minh này − giữa những người Arập du cư với các nhà công nghiệp dầu lửa Texas, giữa sự chuyên quyền Hồi giáo truyền thống và chủ nghĩa tư bản Mỹ hiện đại − thật khó tin nhưng đó lại là một liên minh chắc chắn sẽ tồn tại bền lâu.

Chấm dứt sự độc lập năng lượng

Vì không dễ bảo vệ tài nguyên dầu lửa Trung Đông "mà kẻ thù sẽ tìm cách can dự vào" khi chiến tranh nổ ra, theo lời các tham mưu trưởng của Mỹ, làm thế nào để bảo đảm được nguồn cung trong một cuộc xung đột tương lai? Câu hỏi này trở thành chủ đề thảo luận chính tại Washington và cả trong ngành công nghiệp dầu lửa. Một số người thấy cần nhập khẩu thêm dầu trong thời gian hòa bình để tăng nguồn dự trữ nội địa cho chiến tranh. Đó là lời kêu gọi trong A National Policy for the Oil Industry (Một chính sách quốc gia vì ngành công nghiệp dầu lửa), một cuốn sách gây tranh cãi của Eugene V. Rostov, giáo sư Đại học Luật Yale. Một cơ quan liên bang mới, Ban Tài nguyên an ninh quốc gia, đưa ra lập luận tương tự trong một bản đánh giá lại các chính sách lớn của năm 1948, vì nhập khẩu một khối lượng lớn dầu từ Trung Đông sẽ cho phép 1 triệu thùng dầu sản xuất mỗi ngày ở Tây bán cầu nằm im, tức là tạo ra một kho quân sự lớn trong lòng đất – một nơi dự trữ dầu lý tưởng.

Nhiều người ủng hộ việc Mỹ áp dụng điều mà Đức đã làm trong chiến tranh – xây dựng ngành công nghiệp nhiên liệu tổng hợp, chiết xuất chất lỏng không chỉ từ than mà còn từ đá phiến có dầu trên những đỉnh núi của bang Colorado và từ nguồn khí đốt tự nhiên dồi dào. Một số người tin nhiên liệu tổng hợp sẽ nhanh chóng trở thành một nguồn năng lượng chính. Năm 1948, tờ New York Times nhận định: "10 năm tới sẽ chứng kiến sự lớn mạnh của một ngành công nghiệp khổng lồ mới, ngành công nghiệp sẽ giải thoát chúng ta khỏi bị phụ thuộc vào tài nguyên dầu của nước ngoài. Xăng sẽ được sản xuất từ than, không khí và nước." Bộ Nội vụ Mỹ lạc quan tuyên bố rằng xăng có thể được làm cả từ than hoặc đá phiến, với mức giá 11 xu/gallon – vào thời điểm mà giá bán buôn của xăng là 20 xu/gallon. Quan điểm thực tế và phổ biến nhất trong ngành công nghiệp dầu lửa cho rằng nhiên liệu tổng hợp, trong trường hợp lý tưởng, hoàn toàn nằm trong tầm tay.

Tuy nhiên, cuối năm 1947, trước tình hình Chiến tranh Lạnh leo thang, Bộ Nội vụ Mỹ kêu gọi một dự án Manhattan khác: một chương trình tổng trị giá 10 tỷ đô-la cho mục tiêu sản xuất 2 triệu thùng nhiên liệu tổng hợp mỗi ngày trong vòng bốn hoặc năm năm. Nhưng chính quyền Truman chỉ cấp 85 triệu đô-la cho nghiên cứu này. Thời gian trôi đi, chi phí cho dự án này càng ngày càng tăng, cho đến khi chi phí sản xuất xăng từ than, năm 1951, ước tính cao gấp 3,5 lần so với giá thị trường của loại xăng thông thường. Thêm vào đó, nguồn dầu giá rẻ nước ngoài ngày càng dồi dào khiến cho các loại nhiên liệu tổng hợp không còn phù hợp và không kinh tế. Dầu nhập khẩu đã giết chết nhiên liệu tổng hợp. Và cái chết này kéo dài ba thập kỷ, cho tới khi nhiên liệu tổng hợp được khôi phục vội vàng để đối phó với sự gián đoạn của dòng dầu nhập khẩu. Ngay những năm đầu sau chiến tranh, những khả năng thăm dò và khai thác dầu lửa mới đã được mở ra nhờ công nghệ. Khoan thăm dò đạt đến độ sâu hơn làm sản lượng tăng lên. Bước cải tiến còn quan trọng hơn nữa đến từ việc khai thác dầu ngoài khơi.

Giữa thập niên 1890, các giếng dầu được khoan ở khu vực bờ biển gần Santa Barbara nhưng chỉ cho sản lượng 1-2 thùng/ngày. Những thập kỷ đầu tiên của thế kỷ XX, giàn khoan được xây dựng ở vùng hồ Louisiana và Venezuela. Những năm 1930, các nhà khoan thăm dò đã tới vùng nước nông ngay ngoài bờ biển Texas và Lousiana nhưng hầu như không thành công. Và họ mới chỉ đi cách bờ không xa. Nói chung, thăm dò ngoài khơi thật sự, như tại những vùng nước sâu ở vịnh Mexico, nơi hoàn toàn không nhìn thấy đất liền, là một thay đổi căn bản, đòi hỏi phải có một ngành công nghiệp mới. Kerr-McGee, một công ty độc lập ở bang Oklahoma, đã quyết định chơi trò may rủi – và đây là một vụ đánh cược tầm cỡ. Chưa từng tồn tại một công nghệ và kỹ thuật xây dựng giàn khoan, đưa nó vào vị trí và khoan xuống đến đáy đại dương. Ngoài ra, kiến thức thiết yếu về thời tiết (kể cả bão nhiệt đới), thủy triều, dòng chảy… mới chỉ ở mức sơ đẳng hoặc chưa từng được biết đến. Lãnh đạo Kerr-McGee cho rằng công ty mình, ở quy mô của nó, không có nhiều cơ hội giành được những mỏ dầu hấp dẫn, "cấp I" trên đất liền trước các công ty lớn hơn. Trong khi đó, khu vực ngoài khơi vịnh Mexico thì hầu như không hề có sự cạnh tranh nào. Trên thực tế, nhiều công ty khác cho rằng khai thác dầu ngoài khơi đơn giản là điều không thể. Kerr-McGee đã giải quyết các vấn đề cần thiết và vào một buổi sáng chủ nhật đẹp trời tháng 10 năm 1947, trên lô số 32 cách bờ biển Lousiana 10 dặm rưỡi, các mũi khoan của công ty này đã chạm tới dầu. Giếng dầu khoan trên lô số 32 là một bước ngoặt quan trọng và các công ty khác đã theo bước Kerr-McGee. Nhưng việc xây dựng các giàn khoan thăm dò trên biển không diễn ra nhanh chóng như dự kiến, phần lớn là do vấn đề chi phí. Một giếng dầu ngoài khơi tiêu tốn gấp năm lần so với một giếng có cùng độ sâu trên đất liền.

dau mo tien bac va quyen luc ky 22
Trụ sở Công ty Sun Oil

Quá trình khai thác cũng bị trì hoãn bởi sự tranh cãi gay gắt giữa chính phủ liên bang và các bang thật sự sở hữu thềm lục địa. Các cuộc bàn cãi thực ra xoay quanh việc thuế thu nhập sẽ thuộc về ai và vấn đề này mãi tới tận năm 1953 mới được giải quyết. Nhiên liệu tổng hợp thì đắt đỏ, khai thác dầu ngoài khơi thì mới chỉ bắt đầu, vậy có còn lựa chọn nào khác thay cho dầu nhập khẩu? Câu trả lời là có. Câu trả lời này có thể nhìn thấy được vào ban đêm khi những chùm tia sáng bay lên từ những cánh đồng rộng lớn chạy dọc theo những quốc lộ dài bất tận ở Texas. Đó là khí tự nhiên. Hồi đó, khí tự nhiên bị coi là đứa trẻ mồ côi của ngành công nghiệp dầu lửa, một sản phẩm thứ cấp vô dụng trong quá trình khai thác dầu, và bị đốt bỏ vì không dùng được. Chỉ một phần nhỏ của nó được sử dụng, chủ yếu ở miền Tây Nam.

Tuy nhiên, Mỹ có trữ lượng khí tự nhiên khổng lồ và khí này có thể thay thế dầu hoặc than sử dụng cho mục đích đốt nóng gia dụng và công nghiệp. Nhưng xét về mặt năng lượng, khí tự nhiên có mặt trên trên thị trường ít đến độ giá dầu khai thác từ cùng một giếng với nó chỉ bằng 1/5. Khí tự nhiên, để sử dụng được, không đòi hỏi các quá trình xử lý phức tạp. Vấn đề nằm ở việc vận chuyển: làm thế nào để đưa khí tự nhiên tới miền Đông Bắc và Trung Tây, hai vùng tập trung dân cư và những ngành công nghiệp lớn của đất nước. Điều này đồng nghĩa với việc lắp đặt các đường ống dài, chiếm một nửa bề ngang lãnh thổ Mỹ.

Cho đến thời điểm đó, các tuyến ống khoảng 150 dặm đã được coi là dài. Tuy nhiên, những lập luận về mặt thương mại, cùng những lo ngại về an ninh quốc gia và sự phụ thuộc vào dầu nhập khẩu là không thể bác bỏ. Có quan điểm nhận được sự đồng tình của Bộ trưởng Quốc phòng Forrestal, Ủy ban dịch vụ vũ trang Quốc hội tuyên bố rằng việc tăng cường sử dụng khí tự nhiên là "biện pháp nhanh chóng nhất, tiết kiệm nhất và có thể thực thi ngay lập tức để giảm bớt việc tiêu thụ dầu nội địa", rằng sắt thép nên được "ưu tiên dùng cho các đường ống dẫn khí tự nhiên hơn bất kỳ lĩnh vực nào khác đang được đề xuất".

Năm 1947, cả hai đường ống Big Inch (Inch lớn) và Little Inch (Inch nhỏ), những đường ống được xây dựng vội vã trong thời gian chiến tranh nhằm vận chuyển dầu từ miền Tây Nam đến Đông Bắc, đều được bán cho Công ty vận tải Đông Texas và chuyển sang vận chuyển khí tự nhiên. Cùng năm đó, trong một dự án được Pacific Lighting, công ty mẹ của Southern California Gas, hỗ trợ Los Angeles đã được nối tới các mỏ khí tự nhiên ở New Mexico và Tây Texas bằng một đường ống có đường kính lớn, được mệnh danh là "Biggest Inch" (Inch lớn nhất). Đến năm 1950, lượng khí tự nhiên được vận chuyển giữa các bang đã đạt mức 2,5 tỷ feet khối – gấp gần 2,5 lần so với mức của năm 1946. Nếu không được bổ sung nguồn khí tự nhiên này thì Mỹ đã phải cần thêm hơn 700.000 thùng dầu mỗi ngày. Đến lúc này, trật tự dầu lửa mới đã được thiết lập, mà tâm điểm là ở Trung Đông, nơi các công ty dầu lửa vận hành với sản lượng rất cao để đáp ứng nhu cầu tăng mạnh của thị trường – lượng dầu tiêu thụ tại Mỹ trong năm 1950 đã tăng 12% so với năm 1949.

Dầu đã chứng tỏ là một loại nhiên liệu được ưa thích, không chỉ tại Mỹ mà cả ở châu Âu và sau đó là Nhật Bản, cung cấp năng lượng cho sự tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ trong suốt hai thập kỷ. Phối hợp được những điều kiện thực tế mới về chính trị và kinh tế, trật tự dầu lửa sau chiến tranh là một thành công lớn – thậm chí là rất lớn, xét trên một khía cạnh nào đó. Rõ ràng vấn đề mà ngành công nghiệp phải đối mặt năm 1950 không phải là mối lo ngại nảy sinh ngay sau chiến tranh về việc không đáp ứng được nhu cầu về dầu. Ngược lại, theo phân tích của Jersey vào tháng 7 năm đó, "có lẽ, trong tương lai, lượng dầu thô mà Jersey khai thác được ở Trung Đông sẽ vượt xa nhu cầu". Điều gì đúng với Jersey cũng sẽ đúng với các công ty dầu lửa khác. Dự báo của Jersey chỉ là một dấu hiệu về tình trạng dư thừa ở mức cao mà ngành công nghiệp dầu lửa sẽ phải đối mặt trong những năm sau đó. Trước đó, trong khi trật tự dầu lửa mới bắt đầu đem lại những khoản lợi nhuận khổng lồ thì những cuộc chiến gay gắt về cách thức phân chia những khoản lợi nhuận này cũng bùng nổ.

(Còn tiếp)

Nam Hà (giới thiệu)

DMCA.com Protection Status