Nhà máy Xử lý khí Dinh Cố:

Cánh chim đầu đàn của nền công nghiệp khí Việt Nam (Kỳ cuối)

06:50 | 26/10/2019

|
Thành công của cụm công trình đã mang lại hiệu quả kinh tế vô cùng to lớn: Tổng hiệu quả kinh tế trực tiếp của cụm công trình tính đến ngày 31/12/2018 là 538,7 triệu USD. Hiệu quả kinh tế này sẽ còn tiếp tục tăng thêm đến cuối đời khai thác các mỏ của Vietsovpetro cũng như cơ hội kết nối thêm các mỏ lân cận đã và sẽ phát hiện trong thời gian tới. Thành công của cụm công trình đã góp phần thiết thực và hiệu quả trong việc bảo vệ môi trường sinh thái.

Trở lại câu chuyện xây dựng nhà máy, sau khi lựa chọn được nhà thầu và tiến độ xây dựng nhà máy đang ở giai đoạn rất khẩn trương, Đỗ Khang Ninh được giao nhiệm vụ làm tổng quản chỉ huy việc xây dựng nhà máy. Ngày ấy, các anh làm việc với một nhiệt huyết cháy bỏng và hoàn toàn không nghĩ gì đến bản thân mình.

Nhà máy xây dựng xong, bắt đầu vào chuẩn bị chạy thử thì bỗng dưng cả tư vấn và đăng kiểm quốc tế đều nói phải đợi thêm 1 tháng nữa. Trong lúc ấy, Kho cảng Thị Vải chưa xây dựng xong, chúng ta phải thuê tàu chứa khí LPG với giá 200 nghìn USD/ngày. Nghe tư vấn giám sát và đăng kiểm quốc tế nói vậy, tất cả mọi người đều ngỡ ngàng bởi một tháng nữa, tức là mất tới 6 triệu USD. Đỗ Khang Ninh hỏi lý do tại sao không cho chạy thử, thì chỉ nhận được câu trả lời rằng, chưa thấy có độ an toàn cao, còn không thấy an toàn ở đâu, khâu nào thì họ không nói.

canh chim dau dan cua nen cong nghiep khi viet nam ky cuoi
Nhà máy Xử lý khí Dinh Cố

Sau khi kiểm tra lại lần cuối, Đỗ Khang Ninh vẫn thắc mắc tại sao không có một sai sót nào mà cả tư vấn và đăng kiểm quốc tế lại cùng lên tiếng? Anh quyết định cứ cho chạy thử. Anh cho họp nhà thầu và đăng kiểm quốc tế về lý do không cho chạy thử thì họ vẫn nói lấp lửng. Anh quyết định: “Tôi quyết định cho chạy thử, nếu xảy ra điều gì, tôi chịu trách nhiệm, còn nếu nhà máy vận hành tốt, tôi sẽ đuổi các ông”.

Đến khi đó, họ buộc phải ký vào biên bản.

Khi chạy thử vào tháng 3/1998, nhà máy vận hành cực kỳ hoàn hảo. Khi dòng dầu condensate chạy ra, mọi người sung sướng reo hò. Nhưng cũng phải nói thêm rằng, vào thời điểm đó, chúng ta vẫn phải thuê tư vấn vận hành trong 2 năm đầu tiên. Mà tiền thuê tư vấn vận hành là cực kỳ cao, lương tư vấn vận hành là 10.000 USD/ngày, với đội ngũ là 10 người, ngang bằng lương của cả công ty.

Nói về chuyện cũ, Đỗ Khang Ninh bỗng nhớ ra một việc. Vừa rồi, lãnh đạo Vietsovpetro có đề nghị làm lại hồ sơ để xét Giải thưởng Nhà nước cho công trình đưa khí vào bờ. Hồi ấy, anh làm ở Vietsovpetro và Viện Nghiên cứu Khoa học và Thiết kế Dầu khí biển (Nipi).

Anh nhớ lại sáng kiến đưa khí vào bờ là một sáng kiến cực kỳ lớn và mang lại hiệu quả kinh tế rất cao. Hồi ấy, bên Công ty Chế biến và Kinh doanh các sản phẩm khí (nay là PV GAS) thuê Nipi làm luận chứng kinh tế về việc đưa khí vào bờ. Đầu tiên, công ty định thuê nước ngoài, nhưng ông Nguyễn Quang Hạp, khi đó là Giám đốc Công ty rất băn khoăn bởi lẽ thuê tư vấn nước ngoài làm luận chứng thì mất tới 4 triệu USD.

Với quyết tâm “tự thiết kế”, năm 1991, Vietsovpetro huy động anh em nghiên cứu lao vào làm luận chứng dự án đưa khí vào bờ từ khu mỏ Bạch Hổ, Đỗ Khang Ninh cùng anh em lao vào làm ngày làm đêm và được bồi dưỡng 100.000 đồng/ngày đêm. Ngày ấy, 100.000 đồng cũng là một con số khá lớn. Làm luận chứng xong, chúng ta thuê công ty của Canada thiết kế tổng thể. Cũng phải nói rằng, ngày ấy, khí đồng hành ở ngoài biển có bao nhiêu là được đốt hết sạch. Nhìn ngọn lửa cháy ngùn ngụt ở ngoài khơi mà tiếc đứt ruột, nhưng không biết làm thế nào. Muốn đưa được khí đồng hành vào bờ thì phải có hệ thống đường ống và phải có một trạm nén khí công suất lớn với số tiền đầu tư hàng trăm triệu USD… Dầu của Bạch Hổ là loại dầu ngọt, có giá trị rất cao, nhưng ngặt nỗi lại có hàm lượng paraffin hơi nhiều, cho nên muốn chống “đông” cho đường ống, thì cứ 20km đường ống lại phải có một “trạm đun nóng”… Như vậy phải đầu tư rất nhiều tiền.

Sau khi nghiên cứu, các cán bộ ở Viện NIPI của Vietsovpetro đã phát kiến ra rằng, có thể lợi dụng áp suất vỉa để đẩy dòng khí vào mà không cần tới máy nén. Đỗ Khang Ninh là người được giao trực tiếp tính toán. Ngày ấy, máy tính điện tử còn rất lạc hậu, chỉ có máy tính đen trắng đời 286, không có phần mềm mua sẵn nên mọi người phải tự lập trình, thiết kế. Nhưng dù sao như thế cũng còn hơn viết tay.

Lúc tính đưa khí vào bờ chưa có máy nén, làm thế nào để đưa được vào bờ 2 triệu m3 khí/ngày, các anh đã nghĩ ra dùng nguồn khí áp suất cao trộn vào khí áp suất thấp và đưa được vào bờ.

Nhiều chuyên gia dầu khí nói rằng, dự án đưa dòng khí đồng hành từ Bạch Hổ vào bờ có ý nghĩa quan trọng không kém gì dự án tìm ra dầu ở tầng đá móng.

Bây giờ, khi đánh giá lại thì mới khẳng định được rằng: Đây là một công trình nghiên cứu có hệ thống, đầy đủ về quá trình hình thành và phát triển hệ thống thu gom, xử lý, vận chuyển và sử dụng khí đồng hành ở các mỏ của Vietsovpetro và các mỏ lân cận, tổng hợp toàn bộ những khó khăn, thách thức và giải pháp trong thu gom, xử lý, vận chuyển và sử dụng khí đồng hành từ năm 1995 đến nay.

Là một công trình nghiên cứu toàn diện về tiềm năng khí đồng hành, các đặc tính lý hóa của khí đồng hành và các giải pháp tận thu, xử lý, vận chuyển và sử dụng khí đồng hành tại Vietsovpetro.

Từ các kết quả nghiên cứu của công trình này, Vietsovpetro đã phát triển sáng tạo công nghệ xử lý vận chuyển khí đồng hành đạt hiệu quả kinh tế cao, có cơ sở khoa học và thực tiễn, phù hợp với điều kiện thực tế của Vietsovpetro và Việt Nam.

Thành công của cụm công trình đã mang lại hiệu quả kinh tế vô cùng to lớn: Tổng hiệu quả kinh tế trực tiếp của cụm công trình tính đến ngày 31/12/2018 là 538,7 triệu USD. Hiệu quả kinh tế này sẽ còn tiếp tục tăng thêm đến cuối đời khai thác các mỏ của Vietsovpetro cũng như cơ hội kết nối thêm các mỏ lân cận đã và sẽ phát hiện trong thời gian tới. Thành công của cụm công trình đã góp phần thiết thực và hiệu quả trong việc bảo vệ môi trường sinh thái.

“Huyền thoại” ở cụm công trình này là đã nghiên cứu thành công vận chuyển hỗn hợp dầu khí cao áp và sử dụng nguồn năng lượng vỉa của giếng dầu để thu gom và vận chuyển khí vào bờ đến Nhà máy Nhiệt điện Bà Rịa không cần giàn nén khí. Với giải pháp này, chỉ cần xây dựng đường ống vận chuyển khí từ mỏ Bạch Hổ đến bờ dài 120km, qua trạm phân phối khí và đến Nhà máy Nhiệt điện Bà Rịa đã cho phép Vietsovpetro đưa được 1.0 triệu m3 khí/ngđ vào bờ đến Nhà máy Nhiệt điện Phú Mỹ, thay thế nguồn nguyên liệu dầu DO nhập ngoại. Giải pháp này đã mở ra kỷ nguyên sử dụng khí đồng hành làm nhiên liệu cho các nhà máy nhiệt điện và các ngành công nghiệp khác ở Việt Nam.

Nghiên cứu và ứng dụng thành công giải pháp gia tăng sản lượng khí vận chuyển vào bờ bằng cách sử dụng ở quy mô lớn các bộ phối trộn EJECTOR, hòa dòng khí sau bình tách ở điều kiện áp suất thấp (28-37at) với dòng khí của giàn nén nhỏ (MKS) có áp suất cao (100at) để được dòng khí có áp suất 57- 58at, đảm bảo vận chuyển được 2.0 triệu m3/ngđ vào bờ, cung cấp nhiên liệu cho Nhà máy Nhiệt điện Phú Mỹ. Giải pháp đặc biệt hiệu quả, đáp ứng yêu cầu cấp bách phát điện phục vụ công nghiệp và dân sinh trong mùa khô của Nhà máy Nhiệt điện Phú Mỹ.

Các nhà khoa học của Vietsovpetro và của PV GAS đã nghiên cứu và ứng dụng thành công giải pháp thu gom khí thấp áp tại các giàn khai thác cố định ở mỏ Bạch Hổ, bằng cách sử dụng phương pháp vận chuyển dầu bão hòa khí sau khi bình tách cấp 1, không qua bình tách cấp 2 đến giàn thu gom trung tâm để tách khí thấp áp tập trung và lắp đặt máy tăng áp. Khí thấp áp sau khi bình tách tập trung đi qua máy tăng áp đến áp suất đủ lớn để vận chuyển đến giàn nén khí trung tâm.

Ông Ngô Thường San nhớ lại, khi làm việc với Nga, chúng ta không khai thác khí mà chỉ tính đến chuyện đưa dầu từ đường ống về Tân Thành để xử lý. Mục tiêu đầu tiên của Vietsovpetro là làm thế nào sản xuất được dầu để Việt Nam không phải nhập dầu từ Nga. Việc đưa được dầu về hết sức phức tạp, khí đồng hành phải bỏ đi rất lớn. Theo tính toán, cứ khai thác được 1 triệu tấn dầu thì đốt hết 200 triệu m3 khí. Đây là một con số không hề nhỏ.

Năm 1990, Thủ tướng Võ Văn Kiệt đến thăm Liên doanh Vietsovpetro. Khi đó, ông Ngô Thường San đã đề xuất phương án xây dựng nhà máy theo kiểu “cuốn gói” - Nghĩa là: Bước 1, chỉ lấy khí và dầu condensate; bước 2 tách LPG và bước 3 là tách toàn bộ… Dầu thì bán ngoài khơi, còn khí đốt thì được đưa vào bờ, đưa về Nhà máy Nhiệt điện Bà Rịa. Thủ tướng Võ Văn Kiệt đồng ý và ngay lập tức có báo cáo trình bày đề án. Vietsovpetro được phân công khai thác dầu ngoài biển, còn khí thì hoàn toàn do phía Việt Nam lo. PV Gas là đơn vị trực tiếp xây dựng giàn. Sau đó mới có chuyện xây dựng Kho cảng Thị Vải và đưa vào bờ 2 tỷ m3 khí/năm.

Nhưng đầu tư một giàn nén khí, đẩy khí từ mỏ Bạch Hổ vào bờ thì tốn tới 200 triệu USD. Mất 200 triệu USD để xử lý 7 triệu m3/khí ngày thì chưa phải là bài toán hiệu quả. Chính vì vậy, sáng kiến áp dụng áp suất đầu giếng để đẩy khí vào bờ là một sáng kiến cực kỳ quan trọng và có hiệu quả kinh tế rất cao.

Khi có nhà máy xử lý khí thì phải xây dựng hệ thống đường ống thu gom khí từ các mỏ về một nơi, rồi tận dụng áp suất cao của vỉa khí đẩy vào bờ.

Có một câu chuyện mà đến giờ, ông Ngô Thường San vẫn thấy buồn, đó là khi Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam đề xuất xây dựng nhà máy nhiệt điện khí thì Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) phản đối mạnh nhất. Họ đưa ra muôn vàn lý do để ngăn cản PVN xây dựng nhà máy nhiệt điện khí, mà tựu trung là họ mang nặng tư tưởng độc quyền. Và họ chỉ muốn mua khí của PVN với giá 1,3 USD cho 1 triệu BTU - nghĩa là giá quá “bèo”. Ông Ngô Thường San phải đi đàm phán không biết bao nhiêu cuộc với EVN, phải đi giải thích với các cấp lãnh đạo, cuối cùng mới được đồng ý. Làm Nhà máy Đạm Phú Mỹ cũng vậy… Một số bộ, ngành cũng ngăn cản quyết liệt và ẩn sau những lý do mà họ đưa ra, chính là vì họ muốn độc quyền.

Một bên là PVN quyết làm, một bên các bộ, ngành quyết ngăn… Chuyện đến tai Thủ tướng Võ Văn Kiệt, Thủ tướng đã gọi ông Ngô Thường San lên báo cáo. Sau khi nghe, Thủ tướng quyết cho làm ngay…

Nhớ lại chuyện cũ, ông Ngô Thường San bảo: “Nếu không có một vị Thủ tướng có tầm nhìn xa, quyết liệt trong điều hành và tin ở cấp dưới, thì sẽ không bao giờ có những nhà máy như Xử lý khí Dinh Cố, Điện khí Phú Mỹ, nhà máy phân đạm và sau này, cũng chẳng có Lọc dầu Dung Quất”.

Tôi bị ám ảnh lời ông Ngô Thường San và khi nghĩ về những công trình quan trọng mà PVN đã xây dựng được trong khoảng hơn 20 năm qua, thì thấy chưa có công trình nào mà ngay từ đầu đã nhận được sự đồng thuận từ các bộ, ngành… Từ Xử lý khí Dinh Cố, Khí Cà Mau, rồi Nhiệt điện Phú Mỹ, Nhiệt điện Nhơn Trạch 1 & 2, cụm Khí - Điện - Đạm Cà Mau, Lọc dầu Dung Quất và cả Dự án Biển Đông 01 khai thác khí và dầu condensate ở cụm mỏ Hải Thạch - Mộc Tinh… Dự án nào cũng phải trải qua những tháng ngày xin chủ trương, xin sự phê chuẩn… tốn thời gian và tiền của vô cùng. Mà trong lĩnh vực khai thác - chế biến dầu khí, việc đưa vào vận hành nhà máy, chỉ sớm một ngày là đất nước có cả triệu USD.

Nguyễn Như Phong