E&P trong sứ mệnh mới của PETROVIETNAM
Trong tiến trình phát triển mới của đất nước, năng lượng không chỉ là đầu vào của nền kinh tế mà ngày càng trở thành một cấu phần của năng lực tự chủ quốc gia. Cùng với đó, doanh nghiệp nhà nước không chỉ được đánh giá ở hiệu quả sản xuất, kinh doanh mà còn phải phát huy vai trò nòng cốt trong những lĩnh vực chiến lược.
Trong bối cảnh đó, hoạt động tìm kiếm, thăm dò khai thác dầu khí (E&P) đứng trước yêu cầu mới về vị thế và sứ mệnh. Nghị quyết số 70-NQ/TW ngày 20-8-2025 của Bộ Chính trị về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 6-1-2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước và Nghị quyết số 20-NQ/TW Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV ngày 28-7-2026 của Ban Chấp hành Trung ương về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh đã đặt E&P trong không gian phát triển rộng hơn, gắn bảo đảm năng lượng với vai trò của kinh tế nhà nước và xây dựng quốc gia biển mạnh.
E&P và vai trò dẫn dắt của doanh nghiệp nhà nước
Nghị quyết số 79-NQ/TW tiếp tục khẳng định kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo; doanh nghiệp nhà nước là lực lượng quan trọng trong những lĩnh vực then chốt, thiết yếu của nền kinh tế. Đây không chỉ là sự khẳng định về vị trí mà còn đặt ra yêu cầu mới về năng lực và trách nhiệm đối với các doanh nghiệp nhà nước nòng cốt.
Đối với doanh nghiệp giữ vai trò trụ cột và nòng cốt trong ngành năng lượng cũng như nền kinh tế quốc gia như Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam (PETROVIETNAM), yêu cầu đó trước hết được thể hiện ở E&P - khâu thượng nguồn của chuỗi giá trị dầu khí.
![]() |
| PETROVIETNAM tiếp tục hướng tới mục tiêu xây dựng nền kinh tế năng lượng bền vững, đáp ứng các yêu cầu phát triển quốc gia. |
Sau hơn nửa thế kỷ phát triển, PETROVIETNAM đã hình thành hệ sinh thái tương đối hoàn chỉnh từ tìm kiếm, thăm dò, khai thác đến chế biến, điện và dịch vụ kỹ thuật dầu khí. Trong hệ sinh thái đó, E&P không chỉ tạo nguồn thu, bổ sung trữ lượng và sản lượng dầu khí, mà còn cung cấp đầu vào cho nhiều chuỗi giá trị công nghiệp, năng lượng và dịch vụ quy mô lớn. Vì vậy, củng cố năng lực E&P cũng đồng nghĩa với củng cố năng lực công nghiệp và tự chủ kinh tế của đất nước.
![]() |
| TS Bùi Trinh. |
Theo TS Bùi Trinh, chuyên gia kinh tế, trong bối cảnh chuỗi cung ứng toàn cầu chịu tác động từ những biến động địa chính trị tại Trung Đông, việc PETROVIETNAM tăng cường tìm kiếm, thăm dò và khai thác dầu khí có ý nghĩa đặc biệt đối với an ninh năng lượng quốc gia. Không chỉ góp phần ổn định nguồn cung, E&P còn tạo nền tảng để Việt Nam chủ động hơn trong điều hành kinh tế vĩ mô.
TS Bùi Trinh cho rằng, gia tăng sản lượng dầu khí trong nước và chủ động nguồn khí cho điện, công nghiệp là giải pháp quan trọng để củng cố năng lực tự chủ năng lượng. Khi nguồn cung trong nước được tăng cường, Việt Nam có thể giảm tác động từ biến động giá dầu thế giới và hạn chế rủi ro từ thị trường nhập khẩu.
![]() |
| Người lao động PETROVIETNAM làm việc trên công trình biển (ảnh: Trần Văn Quỳnh). |
Tinh thần Nghị quyết số 79-NQ/TW cũng đặt ra yêu cầu doanh nghiệp nhà nước nòng cốt chuyển mạnh từ tư duy quản lý sang kiến tạo, dẫn dắt; đổi mới quản trị, tăng tính tự chủ, nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực và chủ động hơn trong các quyết định đầu tư dài hạn.
Đây là yêu cầu đặc biệt quan trọng đối với E&P, bởi dầu khí là lĩnh vực có chu kỳ đầu tư dài, rủi ro địa chất lớn và đòi hỏi nguồn vốn, công nghệ cao. Nếu thiếu cơ chế đủ linh hoạt, những dự án có ý nghĩa chiến lược nhưng rủi ro cao có thể bị chậm triển khai, trong khi hệ quả không chỉ ảnh hưởng đến hiệu quả doanh nghiệp mà còn tác động tới an ninh năng lượng quốc gia.
TS Bùi Trinh cho rằng, để các dự án E&P phát huy hiệu quả, cần tạo cơ chế đủ linh hoạt để doanh nghiệp chủ động hơn trong tìm kiếm cơ hội, triển khai dự án và hợp tác đầu tư, qua đó phản ứng nhanh trước những biến động của thị trường năng lượng toàn cầu. Bảo đảm an ninh năng lượng dài hạn đòi hỏi chính sách đủ cởi mở để doanh nghiệp đẩy nhanh hoạt động tìm kiếm, thăm dò và khai thác. Nếu cơ chế còn nhiều ràng buộc, sẽ khó tạo động lực triển khai các dự án lớn, nhất là những dự án có thời gian thu hồi vốn dài và mức độ rủi ro cao.
Chủ động nguồn năng lượng từ thượng nguồn
Nếu Nghị quyết số 79-NQ/TW đặt E&P trong bài toán phát huy sức mạnh của kinh tế nhà nước, Nghị quyết số 70-NQ/TW đặt hoạt động này trực tiếp trong yêu cầu bảo đảm an ninh năng lượng.
Quan điểm “năng lượng phải đi trước một bước” hàm chứa yêu cầu không chỉ ứng phó với nguy cơ thiếu hụt, mà phải chủ động tạo dựng năng lực cung ứng cho các mục tiêu phát triển dài hạn.
![]() |
| PGS.TS Lê Bộ Lĩnh. |
Trong chuỗi giá trị năng lượng, thượng nguồn là điểm khởi đầu của sự chủ động đó. Đẩy mạnh tìm kiếm, thăm dò, gia tăng trữ lượng và khai thác hiệu quả các mỏ dầu khí trong nước, nhất là tại những khu vực tiềm năng, vùng nước sâu, xa bờ, không chỉ có ý nghĩa kinh tế mà còn góp phần giảm phụ thuộc vào nguồn năng lượng bên ngoài.
Đặc biệt, các dự án khí lớn cần được nhìn nhận trong tổng thể chuỗi giá trị. Khi nguồn khí trong nước được kết nối với hệ thống thu gom, xử lý, đường ống và các trung tâm điện khí, giá trị của E&P không còn dừng ở sản lượng khai thác mà trở thành một mắt xích quan trọng của an ninh điện và an ninh năng lượng.
E&P đồng thời phải thích ứng với quá trình chuyển dịch năng lượng. Công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, tự động hóa, tối ưu khai thác, thu hồi nâng cao và các giải pháp thu giữ, sử dụng và lưu trữ carbon (CCUS) đang mở ra những hướng đi mới, giúp kéo dài vòng đời mỏ, sử dụng hiệu quả hơn tài nguyên và giảm cường độ phát thải.
PGS.TS Lê Bộ Lĩnh, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội cho rằng PETROVIETNAM có tiềm lực lớn về đầu tư, khoa học công nghệ và kinh nghiệm hoạt động trên biển. Đây là nền tảng để Tập đoàn tiếp tục đóng vai trò tiên phong trong thăm dò, khai thác và phát triển các nguồn năng lượng mới trên biển.
Nhìn từ góc độ này, giá trị của E&P không chỉ nằm trong những thùng dầu hay mét khối khí. Đó còn là dữ liệu, công nghệ, nguồn nhân lực và năng lực tổ chức, vận hành các công trình trên biển - những nguồn lực có thể được chuyển hóa thành năng lực phát triển các ngành kinh tế biển mới.
Điện gió ngoài khơi, các công trình năng lượng biển, hạ tầng cảng và dịch vụ kỹ thuật biển có thể trở thành những không gian phát triển tiếp theo trên nền tảng năng lực PETROVIETNAM đã tích lũy. Đây là sự chuyển dịch từ tư duy “khai thác tài nguyên” sang “kiến tạo không gian phát triển”.
Từ năng lực E&P đến không gian phát triển trên biển
Nghị quyết số 20-NQ/TW đặt ra tầm nhìn rộng hơn về biển: phát triển kinh tế biển phải gắn với quản lý, khai thác và bảo vệ không gian biển một cách tổng hợp, hiệu quả; đồng thời kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế với quốc phòng, an ninh.
Trong tư duy đó, E&P có lợi thế đặc biệt. Không nhiều ngành kinh tế có lịch sử hoạt động lâu dài, liên tục và ở quy mô lớn tại các vùng biển xa bờ như dầu khí. Hệ thống công trình ngoài khơi, tàu dịch vụ, đường ống, căn cứ hậu cần cùng đội ngũ kỹ thuật đã tạo nên năng lực đặc thù về khảo sát, thiết kế, xây dựng và vận hành các công trình biển.
Đối với Việt Nam, phát triển kinh tế biển không thể tách rời nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia.
Hoạt động của PETROVIETNAM ngoài khơi vì thế mang ý nghĩa đặc thù. Mỗi công trình, giàn khai thác, tuyến đường ống hay chuyến tàu dịch vụ hoạt động trên biển không chỉ tạo ra giá trị kinh tế mà còn góp phần duy trì sự hiện diện thường xuyên của Việt Nam trên biển.
Từ Bạch Hổ đến các cụm mỏ đang được phát triển, sự hiện diện của người lao động PETROVIETNAM là biểu hiện sinh động của việc kết hợp phát triển kinh tế với bảo đảm quốc phòng, an ninh.
![]() |
| Người lao động Vietsovpetro làm việc trên giàn khoan (ảnh: Trường Sơn). |
Sự kết hợp này không chỉ thể hiện ở bảo đảm an toàn cho các công trình dầu khí, mà còn ở sự phối hợp với các lực lượng chức năng trong bảo đảm an ninh, trật tự trên biển; hỗ trợ tìm kiếm, cứu nạn, cứu hộ; cung cấp nước ngọt, hỗ trợ y tế cho ngư dân và góp phần xây dựng thế trận lòng dân trên biển.
PGS.TS Lê Bộ Lĩnh đánh giá ngành dầu khí không chỉ là ngành kinh tế - kỹ thuật mũi nhọn mà còn có đóng góp quan trọng đối với phát triển kinh tế biển gắn với quốc phòng, an ninh. Quá trình tích lũy khoa học công nghệ trong hơn nửa thế kỷ đã tạo cho PETROVIETNAM nguồn lực tri thức lớn, có thể trở thành nền tảng cho bước phát triển tiếp theo.
Đặt trong tinh thần của các Nghị quyết số 70-NQ/TW, 79-NQ/TW và 20-NQ/TW, sứ mệnh của E&P đang được mở rộng cả về chiều sâu và chiều rộng: từ khai thác tài nguyên sang làm chủ tài nguyên; từ bảo đảm nguồn cung sang chủ động kiến tạo an ninh năng lượng; từ một hoạt động kinh tế biển trở thành một bộ phận của chiến lược phát triển không gian biển; từ hiệu quả của một doanh nghiệp sang đóng góp vào năng lực tự chủ và sức cạnh tranh của nền kinh tế.
Với PETROVIETNAM, thực hiện tốt sứ mệnh mới của E&P cũng là hiện thực hóa vai trò của một doanh nghiệp quốc gia nòng cốt: đi đầu trong những lĩnh vực chiến lược, làm chủ công nghệ, khai mở không gian phát triển mới và góp phần bảo đảm lợi ích quốc gia - dân tộc trong kỷ nguyên phát triển mới.
Trần Phương





