Năm mươi năm gian khó mà vinh quang

09:16 | 02/12/2011

|
Cách đây 50 năm, ngày 27/11/1961, đoàn Dầu lửa 36 tổ chức thăm dò dầu khí đầu tiên ra đời, đánh dấu khởi đầu của nền công nghiệp dầu khí Việt Nam. Từ chỗ 200 cán bộ, công nhân với công nghệ thô sơ chúng ta đã đi tìm dầu khí ở vùng trũng sông Hồng, nay toàn ngành có đến năm vạn người làm việc trên toàn lãnh thổ và thềm lục địa bao la của đất nước.

Trương Minh

Nhân Ngày truyền thống ngành Dầu khí, chúng ta ôn lại lịch sử nửa thế kỷ Dầu khí Việt Nam, cũng là quãng đường đi của những người làm công tác địa vật lý Dầu khí, trong đó góp phần rất quan trọng là những người làm công tác địa chấn.

Từ năm 1961, ta bắt đầu đã nhận chuyển giao và ứng dụng công nghệ thăm dò địa vật lý của Liên Xô, bao gồm các phương pháp thăm dò trọng lực, địa chấn, điện cấu tạo, địa vật lý giếng khoan. Đầu năm 1962, địa chấn phản xạ được đưa vào thí nghiệm đầu tiên ở cánh đồng làng gà Đông Tảo, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên. Bắt đầu từ đây mạng lưới khảo sát địa chấn phản xạ ở trũng sông Hồng với khối lượng trên 4.000km bao phủ cả khu vực. Các tuyến địa chấn chạy theo đường giao thông, sông ngòi kênh rạch cong queo dích dắc hoặc theo tuyến thẳng xuyên qua đồng ruộng, làng mạc. Từ đây có nhiều phương án địa chấn phản xạ nghiên cứu phân vùng triển vọng, phát hiện các cấu tạo chứa dầu khí, phục vụ cho việc xác định vị trí các giếng khoan sâu tìm kiếm thăm dò trong toàn miền võng Hà Nội.

Bình Minh - Con tàu địa chấn đầu tiên của Việt Nam

Cuối năm 1974, công tác thăm dò địa chấn chuyển sang một giai đoạn mới, áp dụng công nghệ địa chấn điểm sâu chung trên đất liền và trên biển. Từ năm 1966 các tuyến địa chấn khúc xạ dài hàng trăm kilômét, rải từ Nam Định đến Quảng Ninh, từ Tiền Hải đến Gia Lâm đã góp phần nghiên cứu cấu trúc sâu ở vùng này.

Năm 1968, phương án thăm dò địa chấn và trọng lực đáy ở vùng nước nông ven bờ vịnh Bắc Bộ, đoàn Địa chấn 36F đã dùng tàu T-01 để khảo sát trọng lực bằng các máy đo trọng lực đáy, cải hoán tàu vận tải T-02, lắp đặt trạm địa chấn thành tàu địa chấn đầu tiên mang tên Bình Minh. Khảo sát địa chấn phản xạ ở vùng Tây Bắc vịnh Bắc Bộ bằng tàu Bình Minh được triển khai bởi đội địa chấn biển, sau là đoàn Địa vật lý biển. Đến năm 1985 công tác này đạt khối lượng khoảng 2.500km tuyến ở vùng biển nông vịnh Bắc Bộ. Từ năm 1976 chúng ta đã bắt đầu áp dụng công nghệ ghi và xử lý số trong thăm dò địa chấn, đánh dấu một bước tiến mới trong thăm dò dầu khí ở nước ta.

Liền sau ngày thống nhất đất nước chúng ta đã bắt đầu công tác tìm kiếm dầu khí ở miền Nam. Đoàn cán bộ địa vật lý 36F đã cử cán bộ vào miền Nam để thành lập đoàn 22 nhằm triển khai công tác địa vật lý ở Đồng bằng sông Cửu Long. Công tác địa chấn đã khảo sát 2.275km tuyến bằng tàu Gemaux (thuê của Pháp) trên hệ thống sông ngòi kênh rạch và vùng biển nông nhằm nghiên cứu cấu trúc địa chất, liên kết với cấu tạo Bạch Hổ với đất liền. Kết quả khảo sát địa chấn đã chỉ ra vị trí 2 giếng khoan tìm kiếm dầu khí ở Đồng bằng Sông Cửu Long và cho nhận định rất quan trọng là khu vực đất liền có ít triển vọng dầu khí, cần sớm mở rộng, tìm kiếm thăm dò ra phía thềm lục địa.

Tàu địa chấn Bình Minh 02

Từ đấy, hợp tác với nước ngoài chúng ta đã triển khai công tác địa vật lý ra toàn thềm lục địa bằng các tàu địa vật lý hiện đại như Gambursev, Iskatel, Malưgin (Nga), Longva II (Nauy)… Đến nay khối lượng khảo sát địa vật lý trên 400.000km (địa chấn 2D, từ, trọng lực) và trên 30.000km địa chấn 3D. Kết quả thăm dò địa chấn đã góp phần quyết định cho việc nghiên cứu cấu trúc địa chất, phân vùng triển vọng và đánh giá trữ lượng dầu khí ở các bể trầm tích sông Hồng, Phú Khánh, Cửu Long, Nam Côn Sơn, Mã Lay – Thổ Chu, Tư Chính – Mã Mây, Hoàng Sa và nhóm bể Trường Sa.

Ngày 20/5/2009, tàu địa chấn Bình Minh 02 được đưa vào vận hành, đánh dấu một bước tiến mới ứng dụng công nghệ hiện đại trong tiến trình tự lực thăm dò dầu khí của Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam. Tàu được trang bị công nghệ số, đảm bảo công tác khảo sát địa chấn 2D trên biển. Nay tàu Bình Minh 02 được TCT Dịch vụ Kỹ thuật Dầu khí PTSC quản lý và khai thác, đã và đang tiến hành khảo sát trên toàn lãnh hải Việt Nam. Hoạt động cửa tàu Bình Minh 02 không chỉ là một nhân tố quan trọng góp phần phát triển kinh tế, mà còn là một sự kiện khẳng định độc lập chủ quyền vùng lãnh hải Việt Nam.

Việc ứng dụng đầy đủ các phương pháp địa vật lý, phục vụ công tác tìm kiếm thăm dò và khai thác dầu khí ở Việt Nam đã đạt được kết quả rất thiết thực và to lớn, nghiên cứu được cấu trúc các bể trầm tích, khoanh vùng triển vọng dầu khí, phát hiện hàng loạt các mỏ dầu khí trên toàn Việt Nam. Kết quả nghiên cứu địa chấn đã góp phần vào việc đánh giá tiềm năng dầu khí của nước ta với nguồn tài nguyên dầu khí khoảng 4-4,5 tỉ m3 quy dầu, trong đó đã phát hiện khoảng 1.200 triệu tấn quy dầu. Từ những mét khối khí đầu tiên được khai thác ở mỏ khí Tiền Hải C năm 1981 và tấn dầu thô đầu tiên ở mỏ Bạch Hổ năm 1986, nay đã khai thác được tấn dầu thứ 200 triệu. Trung bình mỗi năm ngành Dầu khí Việt Nam đóng góp khoảng 25% tổng thu ngân sách Nhà nước. Với sản lượng khai thác như vậy Việt Nam đã đứng vào vị trí nước sản xuất dầu khí đứng thứ ba ở Đông Nam Á. Ngành Dầu khí đã có đóng góp rất quan trọng trong việc phát triển nền kinh tế quốc dân trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đổi mới đất nước trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam và hội nhập quốc tế.

Chúng ta rất tự hào với lịch sử 50 năm phát triển hào hùng và những thành tựu to lớn của ngành Dầu khí Việt Nam.

T.M