Nhân lực dầu khí - “vốn quý” cho trung tâm năng lượng tái tạo
![]() |
| Lao động ngành dầu khí được đánh giá có kinh nghiệm về kiến thức và kỹ năng công trình biển, cơ khí chế tạo, kết cấu thép, lắp đặt, vận hành, bảo dưỡng, logistics và quản lý dự án ngoài khơi. |
Hình thành đội ngũ nhân lực từ lợi thế sẵn có
Theo định hướng của Cục Điện lực (Bộ Công Thương), nhân lực, nghiên cứu và đào tạo (R&D) cùng cơ chế thị trường chính là những điều kiện giúp trung tâm công nghiệp - dịch vụ NLTT vận hành hiệu quả. Trong đó, nhân lực cần được chuẩn bị từ sớm, thậm chí đi trước một bước so với tiến độ hình thành các dự án.
Một trong những lợi thế của Việt Nam khi phát triển trung tâm công nghiệp - dịch vụ NLTT là đã hình thành đội ngũ nhân lực chất lượng cao với kinh nghiệm qua nhiều thập niên trong ngành dầu khí. Đây là lực lượng có kiến thức và kỹ năng về công trình biển, cơ khí chế tạo, kết cấu thép, lắp đặt, vận hành, bảo dưỡng, logistics và quản lý dự án ngoài khơi.
Những năng lực này có nhiều điểm tương đồng với yêu cầu của chuỗi giá trị điện gió ngoài khơi, từ khảo sát, chế tạo và lắp đặt móng, kết cấu, thiết bị đến vận hành và bảo dưỡng các trang trại điện gió.
Do đó, thay vì đào tạo hoàn toàn từ đầu, trung tâm có thể xây dựng các chương trình chuyển đổi và bổ sung kỹ năng cho lực lượng lao động dầu khí, giúp đội ngũ kỹ sư, công nhân nhanh chóng thích ứng với công nghệ, tiêu chuẩn và quy trình của ngành NLTT.
Các doanh nghiệp dầu khí có thế mạnh về công trình biển, cơ khí chế tạo và dịch vụ kỹ thuật có thể trở thành những hạt nhân đầu tiên tham gia chuỗi cung ứng mới, qua đó tận dụng hiệu quả năng lực, thiết bị và kinh nghiệm đã được tích lũy.
![]() |
|---|
| "Kinh nghiệm quý giá mà Na Uy tích lũy được từ ngành dầu khí là khả năng triển khai các hoạt động ngoài khơi ở vùng nước sâu và trong điều kiện thời tiết khắc nghiệt. Đây cũng là lợi thế mà nguồn nhân lực Dầu khí ở Việt Nam đã và đang hình thành thông qua quá trình phát triển ngành" - Đại sứ Na Uy tại Việt Nam và Lào Hilde Solbakken. |
Đại sứ Na Uy tại Việt Nam và Lào Hilde Solbakken nhận định, một trong những kinh nghiệm quý giá mà Na Uy tích lũy được từ ngành dầu khí là khả năng triển khai các hoạt động ngoài khơi ở vùng nước sâu và trong điều kiện thời tiết khắc nghiệt. Đây cũng là năng lực mà Việt Nam đã và đang hình thành thông qua quá trình phát triển ngành dầu khí.
Theo định hướng của Cục Điện lực, các cấu phần của trung tâm không nhất thiết phải triển khai đồng loạt mà có thể phát triển theo từng giai đoạn, phù hợp với tiến độ đầu tư và các kịch bản phát triển nguồn điện. Đào tạo nhân lực có thể đi trước một bước, chuẩn bị nguồn lực cho nhu cầu trong 5-10 năm tới.
Mô hình đào tạo phải gắn liền với nhu cầu thực tế của doanh nghiệp. Ở cấp nghề, có thể triển khai đào tạo chuyên sâu theo hướng kép, kết hợp giữa cơ sở đào tạo và nhà máy, chú trọng kỹ thuật hàn thép dày, chế tạo kết cấu, lắp ráp thiết bị và làm việc ở độ cao lớn.
Đối với các công việc ngoài khơi, an toàn hàng hải và vận hành - bảo dưỡng là yêu cầu đặc biệt quan trọng. Trung tâm có thể hình thành cơ sở huấn luyện chuyên biệt, trong đó cung cấp các chương trình, chứng chỉ quốc tế như GWO BST và HUET ngay tại cảng dịch vụ.
Ở cấp đại học và sau đại học, các cơ sở đào tạo có thể phát triển các chương trình chuyên sâu về kỹ thuật NLTT, công nghệ biển, cơ khí, điện - tự động hóa, tài chính, quản trị dự án và điều hành chuỗi cung ứng.
R&D tạo “bộ não” cho hệ sinh thái
Cùng với nhân lực, trung tâm NLTT cần hình thành trung tâm đổi mới sáng tạo, viện nghiên cứu và cơ sở đào tạo nghề chuyên sâu về năng lượng. Đây sẽ là nơi kết nối viện - trường - doanh nghiệp, thực hiện nghiên cứu, thử nghiệm, chuyển giao công nghệ và phát triển sản phẩm.
Việc đặt hoạt động R&D trong cùng hệ sinh thái với các cơ sở sản xuất, cảng dịch vụ, logistics và các dự án năng lượng giúp kết quả nghiên cứu nhanh chóng được đưa vào thực tiễn. Về dài hạn, đây là cơ sở để nâng cao năng lực làm chủ công nghệ, phát triển sản phẩm trong nước và tăng tỷ lệ nội địa hóa.
Điểm khác biệt của mô hình trung tâm NLTT là không chỉ tập trung vào sản xuất thiết bị hay phát triển các dự án nguồn điện. Trung tâm cần hình thành đầy đủ các dịch vụ hỗ trợ vòng đời dự án, từ khảo sát, thiết kế, chế tạo, lắp đặt đến logistics, vận hành, bảo dưỡng, sửa chữa và đào tạo.
Để doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư vào những lĩnh vực có thời gian thu hồi vốn dài, cơ chế thị trường và cam kết chính sách dài hạn cũng cần được triển khai song hành. Lộ trình dự án 10-15 năm, cơ chế cung cấp điện xanh tại chỗ và quy hoạch không gian linh hoạt sẽ tạo điều kiện để doanh nghiệp đầu tư vào nhà máy, thiết bị, công nghệ và nhân lực.
Khi được kết nối đồng bộ, nguồn nhân lực dầu khí, hệ thống đào tạo, R&D, sản xuất và dịch vụ có thể tạo thành một chuỗi giá trị mới, tận dụng nền tảng công nghiệp hiện hữu để mở rộng sang NLTT.
Phương Thảo


