Phát triển hạ tầng LNG theo mô hình chia sẻ

11:44 | 16/03/2026

209 lượt xem
|
(PetroTimes) - Theo TS Nguyễn Quốc Thập, Chủ tịch Hội Dầu khí Việt Nam, thay vì đầu tư riêng lẻ cho từng dự án điện khí, nhiều quốc gia lựa chọn mô hình hạ tầng tập trung và dùng chung. Đây cũng được xem là hướng đi phù hợp để nâng cao hiệu quả đầu tư hạ tầng khí tại Việt Nam.
Đồng chí Lê Ngọc Sơn ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI tại đơn vị bầu cử số 4, TP Hồ Chí Minh Đồng chí Lê Ngọc Sơn ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI tại đơn vị bầu cử số 4, TP Hồ Chí Minh
Cử tri phường Tân Thành ghi nhận những đóng góp an sinh xã hội của Petrovietnam Cử tri phường Tân Thành ghi nhận những đóng góp an sinh xã hội của Petrovietnam
Chương trình hành động của đồng chí Lê Ngọc Sơn, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐTV Petrovietnam Chương trình hành động của đồng chí Lê Ngọc Sơn, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐTV Petrovietnam

Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh chuyển dịch năng lượng và gia tăng tỷ trọng điện khí trong cơ cấu nguồn điện, việc phát triển hạ tầng khí, đặc biệt là LNG, đang trở thành một yêu cầu cấp thiết. Tuy nhiên, cách thức tổ chức và đầu tư hệ thống hạ tầng này cần được tính toán theo hướng tổng thể, tránh tình trạng phát triển manh mún, thiếu liên kết giữa các dự án.

Theo TS Nguyễn Quốc Thập, hạ tầng công nghiệp khí cần được phát triển theo hướng đồng bộ và tập trung, bảo đảm sự kết nối hiệu quả giữa các khâu trong chuỗi giá trị từ thu gom, vận chuyển, kho cảng LNG, tái hóa khí cho đến phân phối và tiêu thụ. Việc quy hoạch và đầu tư hạ tầng theo cách tiếp cận tổng thể sẽ giúp tối ưu chi phí, nâng cao hiệu quả khai thác và bảo đảm tính ổn định của hệ thống cung ứng khí.

Phát triển hạ tầng LNG theo mô hình chia sẻ
Theo TS Nguyễn Quốc Thập, về dài hạn, việc phát triển hạ tầng LNG theo mô hình tập trung và chia sẻ không chỉ giúp tối ưu chi phí đầu tư mà còn góp phần hình thành thị trường khí cạnh tranh, minh bạch và bền vững hơn tại Việt Nam.

Một hệ thống hạ tầng khí được phát triển đồng bộ không chỉ tạo điều kiện khai thác hiệu quả nguồn khí trong nước, mà còn cho phép tiếp nhận và tích hợp nguồn LNG nhập khẩu, qua đó hình thành chuỗi cung ứng khí linh hoạt phục vụ phát điện, sản xuất công nghiệp và nhu cầu năng lượng của các khu đô thị. Bên cạnh đó, việc mở rộng mạng lưới phân phối khí cũng sẽ góp phần thúc đẩy sự hình thành các trung tâm năng lượng - công nghiệp quy mô lớn, nâng cao hiệu quả chuỗi giá trị khí - điện - công nghiệp.

Theo TS Nguyễn Quốc Thập, trong quá trình phát triển hạ tầng khí, cần tận dụng và phát huy thế mạnh của các doanh nghiệp đã có kinh nghiệm và nền tảng hạ tầng trong lĩnh vực này. Chẳng hạn, Tổng công ty Khí Việt Nam (PV GAS), đơn vị thành viên của Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam (Petrovietnam) đã có nhiều năm kinh nghiệm vận hành hệ thống đường ống và hạ tầng khí, đóng góp quan trọng vào sự phát triển của ngành công nghiệp khí Việt Nam. Với nền tảng sẵn có, các doanh nghiệp như vậy có thể tiếp tục mở rộng hoạt động, đồng thời đóng vai trò điều phối và vận hành hệ thống hạ tầng khí theo hướng tối ưu và hiệu quả hơn.

Tuy nhiên, để phát triển hạ tầng khí quy mô lớn, không thể chỉ dựa vào một doanh nghiệp hay một tập đoàn. Theo TS Nguyễn Quốc Thập, cần có sự tham gia của nhiều nhà đầu tư trong và ngoài nước thông qua các mô hình hợp tác đầu tư khác nhau. Cách tiếp cận này không chỉ giúp huy động nguồn lực tài chính đủ mạnh mà còn tạo điều kiện chia sẻ rủi ro trong quá trình triển khai các dự án quy mô lớn, qua đó nâng cao hiệu quả đầu tư của toàn bộ hệ thống hạ tầng khí.

Thực trạng hạ tầng LNG còn phân tán

Hiện nay, hạ tầng trong lĩnh vực kinh doanh khí của Việt Nam vẫn còn một số hạn chế đáng chú ý. Việc mua bán khí qua hệ thống đường ống chủ yếu do PV GAS đảm nhiệm, trong khi đối với LNG nhập khẩu, nguồn cung hiện tại chủ yếu thông qua kho cảng LNG Thị Vải với công suất khoảng 1 triệu tấn mỗi năm.

Trong thời gian gần đây, xu hướng phát triển các dự án LNG tương đối độc lập đang bắt đầu xuất hiện. Nhiều dự án điện khí LNG được đề xuất theo mô hình mỗi nhà máy điện đi kèm với một kho cảng LNG riêng để phục vụ nhu cầu nhiên liệu của dự án.

Theo TS Nguyễn Quốc Thập, nếu phát triển theo mô hình này, xét ở một góc độ nào đó sẽ dẫn tới tình trạng đầu tư manh mún và kém hiệu quả. Khi mỗi nhà máy điện LNG đều phải xây dựng một kho cảng riêng, suất đầu tư sẽ tăng lên đáng kể, kéo theo chi phí sản xuất điện cao hơn và cuối cùng làm tăng giá thành điện năng.

Trong khi đó, nếu hạ tầng LNG được đầu tư theo hướng tập trung theo từng khu vực và sử dụng chung, hiệu quả khai thác sẽ cao hơn rất nhiều. Một kho cảng LNG hoàn toàn có thể phục vụ cho nhiều nhà máy điện khác nhau trong cùng khu vực. Khi một nhà máy chưa sử dụng hết công suất khí, các nhà máy khác vẫn có thể chia sẻ nguồn cung. Điều này giúp việc nhập khẩu và điều phối LNG trở nên linh hoạt hơn, đồng thời giảm chi phí đầu tư và vận hành.

Phát triển hạ tầng LNG theo mô hình chia sẻ
Theo TS Nguyễn Quốc Thập, trong quá trình phát triển hạ tầng khí, cần tận dụng và phát huy thế mạnh của các doanh nghiệp đã có kinh nghiệm và nền tảng hạ tầng trong lĩnh vực này.

Trên thực tế, các quốc gia có ngành công nghiệp khí phát triển và có kinh nghiệm trong nhập khẩu LNG thường không tổ chức hạ tầng theo mô hình mỗi dự án tự xây dựng một hệ thống riêng. Thay vào đó, họ phát triển hạ tầng theo hướng tập trung và mở, cho phép nhiều nhà đầu tư cùng tham gia đầu tư và nhiều khách hàng cùng khai thác, sử dụng chung hệ thống.

Cần cơ chế mở để thu hút đầu tư

Theo TS Nguyễn Quốc Thập, thị trường kinh doanh khí của Việt Nam cần được phát triển theo hướng mở và hội nhập hơn. Hạ tầng khí có thể do một hoặc nhiều nhà đầu tư tham gia xây dựng, nhưng việc khai thác và sử dụng nên được tổ chức theo cơ chế mở, cho phép nhiều khách hàng cùng tiếp cận.

Chẳng hạn, các nhà máy điện hoặc các doanh nghiệp tiêu thụ khí lớn có thể trực tiếp mua khí từ các nhà cung cấp, đồng thời thuê và trả phí sử dụng các dịch vụ hạ tầng như vận chuyển, lưu trữ, tái hóa khí và truyền tải khí đến điểm tiêu thụ. Cách tiếp cận này sẽ góp phần hình thành thị trường khí cạnh tranh và minh bạch hơn.

Theo TS Thập, hạ tầng khí trong trường hợp này có thể được tổ chức tương tự như hệ thống đường cao tốc. Các doanh nghiệp đầu tư hạ tầng sẽ cung cấp dịch vụ và thu phí đối với các hoạt động như vận chuyển, lưu trữ, tái hóa khí hoặc truyền tải khí. Trong khi đó, nhiều chủ thể khác nhau, từ doanh nghiệp kinh doanh khí, các nhà nhập khẩu LNG cho đến các nhà máy điện và cơ sở công nghiệp đều có thể sử dụng chung hệ thống hạ tầng này trên cơ sở minh bạch và bình đẳng.

Nếu xây dựng được cơ chế tiếp cận hạ tầng như vậy, các nhà đầu tư sẽ có niềm tin lớn hơn khi tham gia phát triển hạ tầng khí, qua đó giúp huy động nguồn lực xã hội cho sự phát triển của ngành công nghiệp khí trong dài hạn.

Bên cạnh đó, TS Nguyễn Quốc Thập cho rằng cũng cần có một cơ chế hoặc một đầu mối có năng lực điều phối hệ thống hạ tầng chung. Cơ chế này sẽ giúp định hướng đầu tư hợp lý, tối ưu hóa việc khai thác hạ tầng và tạo điều kiện kiểm soát hiệu quả toàn bộ chuỗi hoạt động của ngành công nghiệp khí.

Trong bối cảnh nhiều địa phương đang đưa các dự án kho cảng LNG vào quy hoạch từ Hải Phòng, Hưng Yên cho đến Thanh Hóa, Nghệ An... nếu các dự án phát triển theo hướng độc lập, bài toán điều phối nguồn khí và tiêu thụ khí trong tương lai sẽ trở nên phức tạp hơn.

Một trong những nguyên nhân khiến nhiều dự án LNG hiện vẫn chưa thể đưa ra quyết định đầu tư cuối cùng là vấn đề đầu ra của điện khí. Các dự án điện khí LNG hiện nay chủ yếu phụ thuộc vào hợp đồng mua bán điện với Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN). Tuy nhiên, EVN khó có thể đưa ra cam kết bao tiêu dài hạn cho toàn bộ các dự án đang được đề xuất.

Từ thực tế đó, TS Nguyễn Quốc Thập cho rằng cần tiếp cận theo hướng mở hơn đối với thị trường tiêu thụ điện khí LNG. Theo đó, khách hàng mua điện không nhất thiết chỉ giới hạn ở EVN mà có thể mở rộng sang các khu công nghiệp hoặc các doanh nghiệp tiêu thụ điện lớn.

Ví dụ, các doanh nghiệp công nghệ cao như sản xuất chip, linh kiện điện tử hoặc các ngành công nghiệp tiêu thụ điện lớn hoàn toàn có thể tham gia ký kết hợp đồng mua điện trực tiếp với các nhà máy điện khí. Việc hình thành các liên kết thị trường linh hoạt như vậy sẽ giúp tạo đầu ra ổn định cho các dự án điện khí LNG, đồng thời thúc đẩy quá trình đầu tư và phát triển hạ tầng khí trong thời gian tới.

Theo TS Nguyễn Quốc Thập, về dài hạn, việc phát triển hạ tầng LNG theo mô hình tập trung và chia sẻ không chỉ giúp tối ưu chi phí đầu tư mà còn góp phần hình thành thị trường khí cạnh tranh, minh bạch và bền vững hơn tại Việt Nam. Bên cạnh đó, các định hướng này cũng cần được cụ thể hóa thông qua hệ thống cơ chế, chính sách và quy định pháp lý rõ ràng, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình triển khai trong thực tế./.

Trạm nạp xe bồn LNG Thị Vải: mắt xích quan trọng cho hệ thống hạ tầng LNG Việt NamTrạm nạp xe bồn LNG Thị Vải: mắt xích quan trọng cho hệ thống hạ tầng LNG Việt Nam
PV GAS chủ động giải pháp đảm bảo nguồn cung LNG và LPG trước rủi ro đứt gãy chuỗi cung ứng toàn cầuPV GAS chủ động giải pháp đảm bảo nguồn cung LNG và LPG trước rủi ro đứt gãy chuỗi cung ứng toàn cầu
Nghị quyết 79-NQ/TW: Mở không gian mới để Petrovietnam dẫn dắt chuyển dịch năng lượng quốc giaNghị quyết 79-NQ/TW: Mở không gian mới để Petrovietnam dẫn dắt chuyển dịch năng lượng quốc gia
Chuỗi Khí - Điện LNG khép kín đầu tiên của Petrovietnam, góp phần hiện thực hóa mục tiêu đô thị xanhChuỗi Khí - Điện LNG khép kín đầu tiên của Petrovietnam, góp phần hiện thực hóa mục tiêu đô thị xanh

Đình Khương - Ngọc Hà

DMCA.com Protection Status