PV GAS đề xuất xây dựng các kho LNG trung tâm từ Bắc vào Nam, kết nối hạ tầng dùng chung
![]() |
| Phó Tổng Giám đốc PV GAS Huỳnh Quang Hải: PV GAS cam kết tiếp tục đồng hành cùng Chính phủ, Bộ Công Thương và các đối tác quốc tế trong việc tháo gỡ các điểm nghẽn, phát triển hạ tầng khí và LNG, đóng góp thiết thực cho an ninh năng lượng quốc gia và tiến trình chuyển dịch năng lượng của Việt Nam. |
Ông Huỳnh Quang Hải, Phó Tổng Giám đốc PV GAS cho biết, trong giai đoạn 2026-2027, mới chỉ có hai nhà máy điện LNG Nhơn Trạch 3 và Nhơn Trạch 4 đi vào vận hành.
Theo Quy hoạch điện VIII điều chỉnh, công suất điện LNG được định hướng đạt 22.524 MW vào năm 2030 và bổ sung thêm 10.700 MW trong giai đoạn 2031-2035. Nếu tính thêm các nhà máy điện khí hiện hữu, tổng công suất đến năm 2030 đạt 37.330 MW (20,5% tổng công suất phát điện toàn quốc). Điều này cho thấy yêu cầu về tiến độ rất gấp, nguồn vốn lớn, cần thiết phải xây dựng các cơ chế, chính sách phù hợp với thực tiễn Việt Nam và thông lệ quốc tế.
Trong khi đó, tiến độ phát triển hạ tầng LNG vẫn còn chậm do những vướng mắc trong quá trình đầu tư. Đến nay, Việt Nam mới có hai kho
LNG, đều nằm ở khu vực phía Nam (Thị Vải và Cái Mép). Kho LNG Vũng Áng đang trong giai đoạn lựa chọn nhà thầu EPC và dự kiến khởi công vào cuối năm nay.
![]() |
| Kho cảng LNG Thị Vải. |
3 điểm nghẽn trong phát triển hạ tầng LNG
Từ thực tiễn đầu tư và vận hành, Phó Tổng Giám đốc PV GAS Huỳnh Quang Hải chỉ ra một số điểm nghẽn chính đang ảnh hưởng đến hiệu quả phát triển hạ tầng LNG tại Việt Nam.
Thứ nhất là mô hình đầu tư phân tán, trong đó mỗi nhà máy điện gắn với một kho LNG riêng lẻ. Cách tiếp cận này chưa tận dụng được lợi thế quy mô nguồn cung LNG lớn, đồng thời làm gia tăng nhu cầu đầu tư hạ tầng riêng biệt.
Mô hình một kho LNG phục vụ một nhà máy điện còn đặt ra vấn đề về an toàn kỹ thuật và vận hành hệ thống. Trong trường hợp kho LNG hoặc nhà máy điện xảy ra sự cố, việc phải dừng vận hành có thể khiến nhà máy điện không có đủ thời gian hạ tải phù hợp, ảnh hưởng đến an toàn kỹ thuật và khả năng vận hành của hệ thống điện.
Thứ hai là hạn chế trong khả năng tiếp cận các nguồn cung LNG quy mô lớn. Với mô hình mỗi kho phục vụ riêng một nhà máy điện, doanh nghiệp khó thu xếp các hợp đồng mua LNG với khối lượng lớn. Ông Huỳnh Quang Hải cho biết, PV GAS đang nỗ lực tìm kiếm và thu xếp các nguồn cung dài hạn, nhưng quy mô kho nhỏ khiến doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc đăng ký các suất tiếp nhận LNG lớn ngay từ giai đoạn xây dựng nhà máy.
Do đó, doanh nghiệp phải tham gia đấu thầu, mua LNG trên thị trường thay vì chủ động thu xếp nguồn cung với khối lượng lớn từ sớm. Điều này khiến khả năng đạt được mức giá tốt bị hạn chế so với phương án mua hàng quy mô lớn, có kế hoạch dài hạn.
Thứ ba là những khó khăn trong cơ chế chính sách và sự đồng bộ tiến độ giữa các dự án. Thực tế thời gian qua cho thấy, sự chậm trễ trong phát triển chuỗi LNG chủ yếu xuất phát từ việc các nhà đầu tư nhà máy điện chưa triển khai xây dựng đúng tiến độ, chứ không phải do vướng mắc trong đầu tư hạ tầng kho cảng.
![]() |
| Phó Tổng Giám đốc PV GAS Huỳnh Quang Hải chia sẻ tại hội thảo. |
Cần ưu tiên xây dựng các kho LNG trung tâm từ Bắc vào Nam
Để tháo gỡ các điểm nghẽn, Phó Tổng Giám đốc PV GAS đề xuất, cần thay đổi cách tiếp cận trong phát triển hạ tầng LNG, chuyển từ mô hình đầu tư phân tán sang phát triển các kho trung tâm kết hợp hệ thống đường ống kết nối.
Theo đó, cần ưu tiên xây dựng các kho LNG trung tâm từ Bắc vào Nam, đồng thời phát triển hệ thống đường ống kết nối giữa các kho. Mô hình này cho phép tập trung nhu cầu của nhiều nhà máy điện, tạo điều kiện mua LNG với khối lượng lớn, qua đó cải thiện khả năng tiếp cận nguồn cung và giá mua.
Bên cạnh đó, PV GAS đề xuất nghiên cứu, vận dụng các mô hình quốc tế về chia sẻ hạ tầng. Trong đó, cần tách bạch hoạt động đầu tư, vận hành hạ tầng kho cảng và đường ống dùng chung với hoạt động kinh doanh LNG trên hệ thống hạ tầng đó. Cùng với việc phân định rõ các hoạt động, cần xây dựng cơ chế chính sách cụ thể về cước phí, quy định đấu nối và quyền sử dụng công suất, tạo điều kiện để các bên cùng tiếp cận hạ tầng.
Một đề xuất khác của PV GAS là áp dụng cơ chế “pooling” (gom nhóm) đối với giá LNG và cước phí đường ống trục tại các kho trung tâm. Theo đó, các nhà máy điện cùng sử dụng nguồn LNG từ một hệ thống kho trung tâm sẽ được áp dụng chung một mặt bằng giá LNG. Cơ chế này hướng tới tạo sự bình đẳng, cạnh tranh sòng phẳng giữa các nhà máy điện trong việc tiếp cận và sử dụng công suất hạ tầng.
Ngoài ra, đại diện PV GAS nhấn mạnh sự cần thiết phải hài hòa nguồn khí nội địa với LNG nhập khẩu. Trong giai đoạn trước mắt, khi phát triển các kho trung tâm trên cả nước, cần kết hợp khai thác các mỏ khí nội địa quy mô vừa và nhỏ tại khu vực phía Bắc và miền Trung với nguồn LNG nhập khẩu.
Các mỏ khí này có quy mô không đủ để cung cấp liên tục cho một nhà máy điện trong thời gian 25-30 năm. Vì vậy, việc kết hợp nguồn khí nội địa với LNG tại các kho trung tâm sẽ giúp khai thác và sử dụng hiệu quả hơn các nguồn khí, đồng thời tối ưu hóa hiệu quả vận hành toàn hệ thống.
“PV GAS cam kết tiếp tục đồng hành cùng Chính phủ, Bộ Công Thương và các đối tác quốc tế trong việc tháo gỡ các điểm nghẽn, phát triển hạ tầng khí và LNG, đóng góp thiết thực cho an ninh năng lượng quốc gia và tiến trình chuyển dịch năng lượng của Việt Nam”, Phó Tổng Giám đốc PV GAS Huỳnh Quang Hải khẳng định.
Phương Thảo



