Sửa đổi Luật Dầu khí 2022: Mở đường cho các cực tăng trưởng mới trên biển
PV: Thưa ông, sửa đổi Luật Dầu khí lần này cần được nhìn nhận như thế nào trong bối cảnh Việt Nam thúc đẩy phát triển năng lượng và kinh tế biển?
TS Nguyễn Hùng Dũng: Tôi cho rằng, Luật Dầu khí (sửa đổi) không nên chỉ được nhìn nhận dưới góc độ tháo gỡ khó khăn cho hoạt động tìm kiếm, thăm dò và khai thác dầu khí, mà cần đặt trong bối cảnh chiến lược phát triển năng lượng và kinh tế biển của đất nước.
Năng lượng luôn gắn trực tiếp với an ninh kinh tế, năng lực cạnh tranh và khả năng tăng trưởng dài hạn. Những biến động địa chính trị gần đây cho thấy quốc gia nào không chủ động được nguồn năng lượng sẽ đối mặt với nhiều rủi ro trong phát triển. Vì vậy, Luật Dầu khí (sửa đổi) là quá trình hoàn thiện các hành lang pháp lý nhằm củng cố an ninh năng lượng và nâng cao năng lực tự chủ quốc gia.
Điều đáng chú ý là lần sửa đổi này diễn ra trong bối cảnh Việt Nam đang thúc đẩy phát triển kinh tế biển và chuyển dịch năng lượng. Không gian biển hiện nay không chỉ có dầu khí mà còn mở ra cơ hội cho điện gió ngoài khơi, LNG, hydrogen, CCS và nhiều ngành công nghiệp biển khác. Muốn khai thác hiệu quả các tiềm năng đó, cần có hành lang pháp lý đủ rộng, linh hoạt và có tầm nhìn dài hạn.
![]() |
| Anh hùng Lao động, TS Nguyễn Hùng Dũng - Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hội Dầu khí Việt Nam: Luật Dầu khí (sửa đổi) cần được tiếp cận không chỉ như đạo luật điều chỉnh hoạt động dầu khí truyền thống mà còn là một bộ phận quan trọng trong hệ sinh thái pháp luật về năng lượng biển và công nghiệp năng lượng quốc gia. |
Một giá trị quan trọng của việc sửa luật là tạo cơ sở để tận dụng tối đa hạ tầng kỹ thuật, kinh nghiệm và nguồn nhân lực mà Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam (Petrovietnam) đã tích lũy hơn nửa thế kỷ qua, từ đó mở đường cho các ngành năng lượng mới và hình thành các trung tâm công nghiệp - năng lượng ven biển.
Bên cạnh đó, cần khẳng định rằng chuyển dịch năng lượng không đồng nghĩa với loại bỏ dầu khí. Trong nhiều thập kỷ tới, dầu khí vẫn là nguồn năng lượng nền và năng lượng chuyển tiếp quan trọng. Vì vậy, việc hoàn thiện thể chế vừa giúp khai thác hiệu quả nguồn tài nguyên hiện có, vừa tạo nền tảng cho các lĩnh vực năng lượng mới, góp phần bảo đảm an ninh năng lượng và thúc đẩy tăng trưởng bền vững.
PV: Việt Nam đang thúc đẩy phát triển các ngành năng lượng mới. Theo ông, Luật Dầu khí cần thay đổi ra sao để hỗ trợ quá trình này?
TS Nguyễn Hùng Dũng: Xu hướng thế giới hiện nay là phát triển các mô hình năng lượng tích hợp, trong đó dầu khí, LNG, điện gió ngoài khơi, hydrogen và CCS/CCUS có mối liên hệ chặt chẽ. Nhiều quốc gia đã tận dụng chính hạ tầng và kinh nghiệm của ngành dầu khí để phát triển các lĩnh vực năng lượng mới. Việt Nam cũng có lợi thế tương tự và cần được hỗ trợ bằng các quy định pháp lý phù hợp.
Trước hết, luật cần tạo cơ sở pháp lý cho việc sử dụng và chuyển đổi hạ tầng dầu khí hiện có nhằm phục vụ các dự án năng lượng mới. Các công trình ngoài khơi, hệ thống đường ống, cảng biển, căn cứ dịch vụ kỹ thuật và nguồn nhân lực chất lượng cao của Petrovietnam hoàn toàn có thể trở thành nền tảng cho điện gió ngoài khơi, hydrogen hay CCS/CCUS trong tương lai. Bên cạnh đó, luật cần tạo thuận lợi cho phát triển LNG, các trung tâm công nghiệp - năng lượng ven biển.
![]() |
| Theo TS Nguyễn Hùng Dũng, quan điểm “năng lượng đi trước một bước” không chỉ là định hướng phát triển ngành năng lượng mà còn là yêu cầu chiến lược đối với nền kinh tế. |
PV: Theo ông, Việt Nam có những lợi thế gì để phát triển hệ sinh thái công nghiệp - năng lượng biển hiện đại, và Luật Dầu khí cần đóng vai trò như thế nào trong quá trình đó?
TS Nguyễn Hùng Dũng: Việt Nam có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển hệ sinh thái công nghiệp - năng lượng biển hiện đại nếu biết tận dụng hiệu quả những nền tảng đã được Petrovietnam xây dựng trong hơn 50 năm qua.
Trong hơn nửa thế kỷ, Việt Nam đã xây dựng được hệ sinh thái dầu khí tương đối hoàn chỉnh, từ hạ tầng khai thác ngoài khơi, đường ống dẫn khí, các trung tâm điện khí, lọc hóa dầu đến hệ thống dịch vụ kỹ thuật và nguồn nhân lực chất lượng cao. Đây là những tài sản chiến lược có thể được tận dụng để phát triển các ngành năng lượng mới với chi phí thấp hơn và tốc độ triển khai nhanh hơn.
Đặc biệt, Petrovietnam và các đơn vị thành viên đã tích lũy nhiều kinh nghiệm trong khảo sát, thiết kế, chế tạo, lắp đặt và vận hành công trình biển quy mô lớn. Những năng lực này hoàn toàn có thể mở rộng sang điện gió ngoài khơi, hydrogen, CCS/CCUS hay các mô hình năng lượng biển tích hợp.
Xu hướng quốc tế hiện nay là phát triển các cụm công nghiệp - năng lượng biển đa mục tiêu, nơi dầu khí, điện gió, hydrogen, lưu trữ carbon và logistics cùng tồn tại trên một không gian biển. Mô hình này giúp tối ưu hạ tầng, giảm chi phí và tạo giá trị kinh tế cao hơn.
Để hiện thực hóa tiềm năng đó, điều kiện tiên quyết vẫn là thể chế. Luật Dầu khí (sửa đổi) cần đóng vai trò là đạo luật mở đường, tạo cơ sở pháp lý cho việc sử dụng chung và chuyển đổi hạ tầng dầu khí, tăng cường liên kết với các ngành năng lượng mới và thu hút đầu tư vào các trung tâm công nghiệp - năng lượng ven biển. Đây sẽ là nền tảng để hình thành một không gian tăng trưởng mới trên biển cho Việt Nam.
PV: Từ quan điểm “năng lượng đi trước một bước”, theo ông, việc hoàn thiện thể chế ngành dầu khí - năng lượng sẽ đóng góp ra sao cho mục tiêu tăng trưởng nhanh và bền vững?
TS Nguyễn Hùng Dũng: Quan điểm “năng lượng đi trước một bước” không chỉ là định hướng phát triển ngành năng lượng mà còn là yêu cầu chiến lược đối với nền kinh tế. Thực tiễn cho thấy, không thể duy trì tăng trưởng nhanh và bền vững nếu thiếu một nền tảng năng lượng ổn định, an toàn và có khả năng đáp ứng nhu cầu dài hạn.
Trong giai đoạn tới, Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng cao, nhu cầu về điện, khí và các dạng năng lượng khác sẽ tăng mạnh. Nếu nguồn cung, hạ tầng và thể chế phát triển năng lượng không theo kịp, đây có thể trở thành điểm nghẽn của nền kinh tế. Vì vậy, hoàn thiện thể chế cho ngành dầu khí và các lĩnh vực năng lượng liên quan cần được xem là chiến lược phát triển quốc gia.
Trước hết, điều này góp phần củng cố an ninh năng lượng. Trong bối cảnh thế giới đối mặt với nhiều biến động địa chính trị và cạnh tranh tài nguyên ngày càng gay gắt, việc khai thác hiệu quả các nguồn năng lượng trong nước có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Những cơ chế phù hợp cho dầu khí, LNG, điện gió ngoài khơi và các nguồn năng lượng mới sẽ giúp nâng cao khả năng tự chủ và bảo đảm nguồn cung cho nền kinh tế.
Thứ hai, việc ổn định chính trị và thể chế thông thoáng sẽ tạo niềm tin cho nhà đầu tư tham gia các dự án năng lượng quy mô lớn, vốn đòi hỏi nguồn vốn lớn và thời gian thu hồi dài. Khi các nguồn lực xã hội được huy động hiệu quả, năng lượng sẽ trở thành động lực cho phát triển công nghiệp và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
Xa hơn, việc hoàn thiện thể chế còn tạo điều kiện hình thành các chuỗi giá trị mới từ khí - điện - đạm, LNG, lọc hóa dầu đến điện gió ngoài khơi, hydrogen và CCS. Đây chính là những không gian tăng trưởng mới, góp phần nâng cao năng lực tự chủ quốc gia, bảo đảm an ninh năng lượng và tạo nền tảng cho mục tiêu phát triển nhanh, bền vững trong giai đoạn tới.
PV: Xin cảm ơn ông!
Đình Khương


