Tọa đàm: Xăng sinh học E10 - Lợi ích hài hòa cho người dân, Nhà nước và doanh nghiệp

14:27 | 17/04/2026

10,527 lượt xem
|
(PetroTimes) - Tọa đàm “Xăng sinh học E10 - Lợi ích hài hòa cho người dân, Nhà nước và doanh nghiệp” được tường thuật trực tuyến, cập nhật liên tục trên PetroTimes.vn.

Tọa đàm có sự góp mặt của nhiều đại biểu, chuyên gia và đại diện doanh nghiệp trong lĩnh vực năng lượng như: TS Đào Duy Anh - Phó Cục trưởng Cục Đổi mới sáng tạo, Chuyển đổi xanh và Khuyến công (Bộ Công Thương); PGS.TS Nguyễn Thường Lạng - Giảng viên cao cấp Trường Đại học Kinh tế Quốc dân; PGS.TS Phạm Hữu Tuyến - Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu các nguồn động lực và phương tiện tự hành (ĐH Bách khoa Hà Nội); ông Mai Tuấn Đạt - Phó Tổng Giám đốc Tổng Công ty Lọc hóa dầu Việt Nam (BSR) và ông Lê Trung Hưng - Phó Tổng Giám đốc Tổng Công ty Dầu Việt Nam (PVOIL).

Trực tiếp Tọa đàm: Xăng sinh học E10 - Lợi ích hài hòa cho người dân, Nhà nước và doanh nghiệp
Toàn cảnh Tọa đàm “Xăng sinh học E10 - Lợi ích hài hòa cho người dân, Nhà nước và doanh nghiệp”.

Phát biểu khai mạc tọa đàm, nhà báo Lê Hà Thanh Ngọc - Phó Tổng biên tập Tạp chí Năng lượng Mới/ PetroTimes nhấn mạnh: Trong bối cảnh thị trường năng lượng thế giới tiềm ẩn nhiều biến động, việc chủ động đa dạng hóa nguồn cung, giảm phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch và từng bước chuyển sang các nguồn năng lượng sạch hơn là yêu cầu tất yếu. Xăng sinh học E10, với tỷ lệ phối trộn ethanol cao hơn, được kỳ vọng không chỉ góp phần giảm phát thải mà còn tạo động lực cho chuỗi giá trị sản xuất nhiên liệu sinh học trong nước.

Các nội dung thảo luận trong buổi Tọa đàm sẽ tập trung vào ba trục chính: Cơ sở khoa học và tính an toàn của xăng E10 đối với phương tiện và người sử dụng; Tác động kinh tế - thị trường (bao gồm chi phí, giá thành, khả năng cạnh tranh và lợi ích đối với doanh nghiệp...) và Khung chính sách và lộ trình triển khai, đặc biệt là bài học kinh nghiệm từ việc phát triển xăng E5 trước đây.

Đáng chú ý, vấn đề niềm tin của người tiêu dùng và hệ thống phân phối tiếp tục được đặt ra như một “điểm nghẽn” cần tháo gỡ. Qua khảo sát của PetroTimes, có những ý kiến cho rằng, để E10 có thể đi vào thực tiễn, cần đồng bộ cả ba yếu tố: truyền thông minh bạch, chính sách đủ mạnh và sự vào cuộc chủ động của doanh nghiệp.

Trong khi đó, từ góc độ doanh nghiệp, đại diện các đơn vị đầu mối xăng dầu và lọc hóa dầu cũng chia sẻ những tính toán liên quan đến nguồn cung ethanol, hạ tầng phối trộn, cũng như bài toán hiệu quả kinh doanh trong bối cảnh thị trường còn nhiều biến động.

Hiểu đúng về nhiên liệu sinh học trong xu hướng chuyển đổi xanh

MC: Câu hỏi đầu tiên xin được hỏi PGS.TS Phạm Hữu Tuyến, với hơn 10 năm nghiên cứu về xăng E10, ông có thể làm rõ: Người dân sẽ được lợi gì cụ thể khi sử dụng E10?Từ hiệu suất vận hành, độ bền động cơ cho đến chi phí sử dụng?

PGS.TS Phạm Hữu Tuyến: Trước hết, cần hiểu rõ xăng sinh học E10 là loại nhiên liệu gồm khoảng 10% ethanol và 90% xăng khoáng. Với tỷ lệ phối trộn ethanol ở mức 10%, đây là mức khá thấp nhưng đủ để cải thiện một số tính chất của nhiên liệu. Cụ thể, ethanol có chứa oxy, giúp quá trình cháy trong động cơ diễn ra hoàn thiện hơn, sạch hơn. Nhờ đó, hiệu suất đốt cháy được cải thiện, góp phần nâng cao hiệu quả vận hành của động cơ.

Trực tiếp Tọa đàm: Xăng sinh học E10 - Lợi ích hài hòa cho người dân, Nhà nước và doanh nghiệp
PGS.TS Phạm Hữu Tuyến.

Một số ý kiến cho rằng ethanol có nhiệt trị thấp hơn xăng khoáng, nên khi pha trộn có thể làm giảm năng lượng của nhiên liệu, dẫn đến tăng tiêu hao. Tuy nhiên, trên thực tế, mức chênh lệch nhiệt trị này không lớn (chỉ khoảng vài phần trăm), và được bù đắp bởi quá trình cháy hiệu quả hơn trong động cơ. Các nghiên cứu và thử nghiệm cho thấy, khi sử dụng xăng E10, công suất động cơ và mức tiêu hao nhiên liệu về cơ bản tương đương với xăng khoáng. Thậm chí, trong một số trường hợp, mức tiêu thụ nhiên liệu còn có thể được cải thiện nhờ quá trình cháy tối ưu hơn.

Bên cạnh đó, lợi ích rõ rệt của xăng E10 là giảm phát thải. Các chất độc hại như khí CO (carbon monoxide) và một số hợp chất hữu cơ chưa cháy hết được cắt giảm đáng kể. Điều này không chỉ góp phần bảo vệ môi trường mà còn tốt hơn cho sức khỏe cộng đồng. Về chi phí, với các chính sách hỗ trợ hiện nay, xăng E10 thường có giá thấp hơn xăng khoáng, giúp người tiêu dùng tiết kiệm chi phí vận hành phương tiện. Quan trọng hơn, xăng E10 đã được sử dụng rộng rãi trên thế giới trong nhiều thập kỷ, tại các quốc gia như Mỹ, Brazil hay Thái Lan. Thực tiễn cho thấy loại nhiên liệu này không gây ảnh hưởng tiêu cực đến độ bền động cơ và hoàn toàn phù hợp với các phương tiện đang lưu hành.

MC: Từ góc độ kinh tế và xu hướng toàn cầu, xin được hỏi PGS.TS Nguyễn Thường Lạng: Trong quá trình chuyển đổi năng lượng hiện nay, nhiên liệu sinh học đang được các quốc gia nhìn nhận như thế nào? Việt Nam đang ở đâu trong lộ trình này, thưa ông?

PGS.TS Nguyễn Thường Lạng: Nhìn từ góc độ kinh tế và xu hướng phát triển toàn cầu, chuyển đổi năng lượng là một xu thế khách quan, gần như tất yếu. Hầu hết các quốc gia, đặc biệt là các nước phát triển và các nền kinh tế công nghiệp, đã theo đuổi quá trình này từ khá sớm. Đây không chỉ là sự thay đổi về nguồn năng lượng, mà còn là điều kiện quan trọng để tái cấu trúc nền kinh tế và hình thành mô hình tăng trưởng mới. Trong bối cảnh đó, nhiên liệu sinh học được xem là một cấu phần quan trọng của quá trình chuyển đổi.

Khi quy mô kinh tế toàn cầu không ngừng mở rộng - với GDP thế giới tiệm cận 110.000 tỷ USD và tăng trưởng khoảng 2,7-3% mỗi năm - nhu cầu năng lượng cũng gia tăng mạnh mẽ. Đồng thời, áp lực về bảo vệ môi trường và giảm phát thải buộc các quốc gia phải tìm kiếm những nguồn năng lượng sạch hơn, bền vững hơn. Sự phát triển của khoa học - công nghệ cũng góp phần làm cho các giải pháp năng lượng mới, trong đó có nhiên liệu sinh học, ngày càng khả thi về mặt chi phí.

Trực tiếp Tọa đàm: Xăng sinh học E10 - Lợi ích hài hòa cho người dân, Nhà nước và doanh nghiệp
PGS.TS Nguyễn Thường Lạng.

Thực tế, chuyển đổi năng lượng đang diễn ra theo hai xu hướng song song: bổ sung các nguồn năng lượng mới, năng lượng tái tạo vào hệ thống hiện hữu và từng bước thay thế các nguồn năng lượng truyền thống. Tỷ trọng năng lượng tái tạo đang gia tăng nhanh chóng, tạo nên một “cuộc chạy đua” trên phạm vi toàn cầu. Tuy nhiên, quá trình này cũng đòi hỏi chi phí chuyển đổi lớn và cần được thực hiện theo lộ trình phù hợp. Theo nhiều đánh giá quốc tế, năng lượng tái tạo hiện đã chiếm khoảng 43% cơ cấu năng lượng, trong khi năng lượng hóa thạch còn khoảng 57%. Xu hướng dịch chuyển này ngày càng rõ nét, với sự gia tăng vai trò của năng lượng sinh học và sinh khối, dưới tác động của ba yếu tố chính: sự suy giảm của nguồn năng lượng hóa thạch; tiến bộ công nghệ giúp giảm chi phí và nâng cao hiệu quả; và các cam kết toàn cầu về kiểm soát phát thải, đặc biệt là mục tiêu phát thải ròng bằng “0”.

Ở tầm tổng thể, năng lượng luôn là ngành công nghiệp nền tảng, giữ vai trò “xương sống” của nền kinh tế, đồng thời gắn với các công nghệ lõi và có sức lan tỏa rộng tới nhiều lĩnh vực. Do đó, chuyển đổi năng lượng không chỉ là vấn đề kỹ thuật, mà còn kéo theo những thay đổi sâu rộng về mô hình công nghệ, mô hình kinh doanh và hành vi tiêu dùng. Đối với Việt Nam, có thể thấy chúng ta đã có những bước đi quan trọng cả về thể chế và thực tiễn. Về chính sách, nhiều định hướng lớn đã được ban hành như Nghị quyết 55 về chiến lược phát triển năng lượng quốc gia, quy hoạch điện VIII..., các quy hoạch điện và hệ thống pháp luật liên quan đến sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả. Điều này cho thấy định hướng chuyển đổi đã khá rõ ràng. Trên thực tế, một số doanh nghiệp đã tham gia vào lĩnh vực này, với việc đưa các sản phẩm nhiên liệu sinh học như xăng E10 ra thị trường. Đây có thể coi là bước chuyển tiếp hợp lý, đóng vai trò “cầu nối” giữa năng lượng truyền thống và năng lượng tái tạo. Ưu điểm của nhiên liệu sinh học là tận dụng được hạ tầng sẵn có, không đòi hỏi công nghệ quá phức tạp và có mức phát thải thấp hơn, phù hợp với điều kiện Việt Nam.

Trong bối cảnh Việt Nam cam kết đạt phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050, phát triển nhiên liệu sinh học có ý nghĩa như một bước đi ban đầu quan trọng, vừa hỗ trợ tăng trưởng, vừa thúc đẩy chuyển đổi xanh. Nếu được triển khai hiệu quả, lĩnh vực này có thể tạo ra hiệu ứng lan tỏa mạnh mẽ, hình thành các chuỗi giá trị mới và góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Có thể khẳng định, Việt Nam đang đi đúng hướng và từng bước bắt nhịp với xu thế chung của thế giới. Vấn đề đặt ra là cần tiếp tục đẩy nhanh tiến độ triển khai và hoàn thiện các điều kiện cần thiết để quá trình chuyển đổi diễn ra hiệu quả, bền vững hơn trong thời gian tới.

MC: Dưới góc độ là đơn vị trực tiếp sản xuất, cung ứng khoảng 30% nhu cầu xăng dầu của nền kinh tế, xin ông Mai Tuấn Đạt, Phó Tổng Giám đốc Tổng Công ty Lọc hóa dầu Việt Nam (BSR) chia sẻ việc phát triển nhiên liệu sinh học như E10 sẽ góp phần như thế nào trong góp phần đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia?

Ông Mai Tuấn Đạt: E10 cần được nhìn nhận không chỉ dưới góc độ môi trường, mà rộng hơn là một phần quan trọng trong chiến lược bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia. Đặc biệt là trong giai đoạn vừa qua khi chúng ta thấy là sự đứt gãy do xung đột ảnh hưởng lớn tới nguồn cung xăng dầu. Trong đó nhiên liệu sinh học như E10 còn tạo ra một chuỗi giá trị trong nước, từ nguyên liệu, sản xuất ethanol, phối trộn cho đến phân phối. Điều đó giúp nâng cao năng lực tự chủ của nền kinh tế, đồng thời hỗ trợ mục tiêu chuyển dịch năng lượng theo hướng xanh hơn, bền vững hơn.

Trực tiếp Tọa đàm: Xăng sinh học E10 - Lợi ích hài hòa cho người dân, Nhà nước và doanh nghiệp
Ông Mai Tuấn Đạt, Phó Tổng Giám đốc Tổng Công ty Lọc hóa dầu Việt Nam (BSR).

Bên cạnh đó, việc sản xuất ethanol rất phù hợp với lợi thế về mặt địa lý của Việt Nam và các nước lân cận. Và với lợi thế đó, chúng ta có thể chủ động sản xuất ethanol ở trong nước hoặc nhập khẩu từ các nước lân cận như Thái Lan, Philippines để đảm bảo nguồn để phối trộn nhiên liệu sinh học.

Hiện nay, với các nhà máy đã đầu tư thì chúng ta có năng lực sản xuất khoảng 600.000 m3/năm và hiện đang hướng tới con số 1 triệu m3/năm. Đây là một nguồn lớn đảm bảo phối trộn xăng E10 cung ứng cho cả nước. Và với việc sản xuất ethanol với sản lượng khoảng 1 triệu m3/năm sẽ tạo ra quy mô kinh tế khoảng 20 nghìn tỉ mỗi năm. Chính vì vậy, có thể khẳng định cả về góc độ kỹ thuật, kinh tế và năng lực sản xuất ở trong nước đều cho thấy chương trình nhiên liệu sinh học là giải pháp vô cùng quan trọng trong bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia.

MC: Thưa TS. Đào Duy Anh, việc triển khai xăng sinh học E10 được xem là một bước đi trong lộ trình chuyển đổi xanh và giảm phát thải của Việt Nam. Vậy xăng E10 đang được đặt ở vị trí nào trong chiến lược chuyển đổi năng lượng của ngành Công Thương? Và mục tiêu dài hạn mà Bộ hướng tới là gì?

TS. Đào Duy Anh: Định hướng xây dựng và phát triển nền kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, phát triển bền vững là chủ trương có từ lâu và xuyên suốt của Chính phủ. Từ năm 2007, Chính phủ đã phê duyệt một đề án về nhiên liệu sinh học, tiếp theo là phê duyệt thêm một chiến lược phát triển năng lượng quốc gia. Năm 2020, Bộ Chính trị có nghị quyết về chiến lược phát triển năng lượng quốc gia Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030.

Gần nhất, Nghị quyết 70 của Bộ Chính trị ban hành 8/2025 về đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia đến 2030, tầm nhìn 2045. Những văn bản trên đều khẳng định quan điểm xuyên suốt là phải phát triển nhiên liệu sinh học để đa dạng hóa các loại hình năng lượng, có thể thay thế một phần, giảm phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch, nhằm xây dựng nền kinh tế phát triển bền vững, đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia, góp phần bảo vệ môi trường, phát triển giao thông xanh, phát thải ròng bằng 0 theo cam kết của Chính phủ tại COP26.

Trực tiếp Tọa đàm: Xăng sinh học E10 - Lợi ích hài hòa cho người dân, Nhà nước và doanh nghiệp
TS Đào Duy Anh - Phó Cục trưởng Cục Đổi mới sáng tạo, Chuyển đổi xanh và Khuyến công (Bộ Công Thương).

Nguồn nhiên liệu hóa thạch ở mỗi quốc gia có tiềm năng và trữ lượng khác nhau nhưng đều là hữu hạn, sẽ dần cạn kiệt. Việt Nam được đánh giá là nước có tiềm năng dầu khí, tuy nhiên với những mỏ đã khai thác hay mới phát hiện có tiềm năng, tuy nhiên theo dự báo khoảng 15 năm tới sẽ dần cạn kiệt. Vì vậy, cần tìm kiếm nguồn nguyên liệu có khả năng tái tạo và nhiên liệu sinh học là một trong những loại nguyên liệu đó. Việt Nam có tiềm năng về nông - lâm nghiệp, vì vậy có triển vọng lớn để xây dựng và phát triển các ngành công nghiệp về nhiên liệu sinh học (NLSH). Khi sử dụng NLSH, nếu nâng tỷ lệ phối trộn sẽ từng bước giảm phụ thuộc vào xăng khoáng. Việt Nam hiện có 2 NMLD có thể đáp ứng khoảng 70% như cầu xăng dầu quốc gia (trong đó 40% nhập khẩu dầu thô từ Trung Đông nên thời gian qua đã xảy ra ảnh hưởng khá lớn), nhập khẩu thêm 30% xăng dầu thành phẩm. Do đó, ý nghĩa của việc sử dụng NLSH càng tăng lên, nếu phối trộn 10% NLSH vào trong xăng thì sẽ giảm phụ thuộc thêm 10% vào xăng khoáng.

Với chủ trương xuyên suốt, đúng, trúng của Đảng và Chính phủ, xăng E10 là một trong những giải pháp Bộ Công Thương đặt ra để bảo vệ môi trường, giảm phụ thuộc xăng khoáng, phát triển kinh tế - xã hội. Việt Nam là nước có tiềm năng nông - lâm nghiệp, khi phát triển ngành công nghiệp NLSH sẽ tạo công ăn việc làm cho một chuỗi từ trồng nguyên liệu (vùng sâu, vùng xa) đến các phát triển các nhà máy ethanol, tạo công ăn việc làm cho người dân khu vực.

Xăng E10 là bước khởi đầu, Bộ Công Thương không chỉ dừng ở E10 mà còn tiếp đến E15, E20 hoặc cao hơn. Với nền nước có nền công nghiệp cao như Mỹ đã sử dụng xăng E10 từ những năm 80 của thế kỷ trước, hiện nay đã dùng đến xăng E85. Philippines, Thái Lan hiện đang sử dụng phổ biến E15, từ 2026 nâng lên E20. Việt Nam đang đi sau so với các nước trên nhưng việc chuyển đổi cần có lộ trình, tạo sự đồng thuận trong xã hội.

MC: Từ góc độ doanh nghiệp trực tiếp cung ứng xăng E10 ra thị trường, xin được hỏi ông Lê Trung Hưng - Phó Tổng Giám đốc Tổng Công ty Dầu Việt Nam (PVOIL), ông đánh giá thế nào về mức độ sẵn sàng của thị trường đối với xăng E10? Theo ông, tâm lý e ngại của người tiêu dùng đối với xăng sinh học xuất phát chủ yếu từ chất lượng, giá cả hay vấn đề truyền thông?

Ông Lê Trung Hưng:Như chúng ta đã biết, từ năm 2005, Bộ Công Thương - với vai trò cơ quan chủ trì - đã triển khai lộ trình của Chính phủ về phát triển nhiên liệu sinh học, trong đó có xăng E10. Quá trình này được chuẩn bị rất kỹ lưỡng, với sự phối hợp của các bộ, ngành liên quan, trong đó có Bộ Khoa học và Công nghệ, nhằm sẵn sàng cho việc triển khai trên thực tế. Có thể khẳng định rằng, đến thời điểm hiện nay, chúng ta không còn ở trạng thái chuẩn bị hay thử nghiệm nữa, mà đã bước sang giai đoạn sẵn sàng triển khai xăng E10 trong thực tiễn. Từ ngày 1/8/2025, PVOIL đã bắt đầu thí điểm kinh doanh xăng E10 tại một số địa bàn lớn, trước hết là Hà Nội, Hải Phòng; tiếp theo sẽ mở rộng ra Đà Nẵng, Quảng Ngãi, TP HCM và sau đó là các tỉnh, thành khác trên cả nước.

Trực tiếp Tọa đàm: Xăng sinh học E10 - Lợi ích hài hòa cho người dân, Nhà nước và doanh nghiệp
Ông Lê Trung Hưng - Phó Tổng Giám đốc Tổng Công ty Dầu Việt Nam (PVOIL).

Hiện nay, tại các cơ sở pha chế của PVOIL, chúng tôi đã cung ứng E10 ra thị trường thông qua hơn 300 cửa hàng xăng dầu, bao gồm các cửa hàng trực thuộc cũng như hệ thống thương nhân phân phối, đại lý. Sản lượng tiêu thụ E10 từ đầu tháng 8/2025 đến nay có xu hướng tăng lên rõ rệt tại các cửa hàng, đặc biệt trong bối cảnh thị trường có những thời điểm căng thẳng như tháng 3, tháng 4 vừa qua, sản lượng bán ra tiếp tục được cải thiện. Với thực tế đó, có thể thấy chúng ta đang bước vào giai đoạn sẵn sàng để triển khai hoạt động kinh doanh xăng E10 theo chủ trương rất đúng đắn của Nhà nước và các cơ quan liên bộ.

Về phía doanh nghiệp, sau quá trình thí điểm, chúng tôi đã chuẩn bị rất kỹ lưỡng từ công tác pha chế, đảm bảo chất lượng theo đúng yêu cầu của Bộ Khoa học và Công nghệ; đến công tác tồn trữ, vận hành, phân phối tới các cửa hàng xăng dầu; cũng như công tác quản lý tại cửa hàng nhằm kiểm soát chặt chẽ các tiêu chuẩn kỹ thuật. Trong suốt quá trình triển khai từ tháng 8/2025 đến nay, không chỉ PVOIL mà các đầu mối lớn khác, trong đó có Petrolimex, gần như không ghi nhận phản ánh nào liên quan đến chất lượng sử dụng xăng E10. Điều này cho thấy sản phẩm khi đưa ra thị trường đã đảm bảo yêu cầu về chất lượng.

Vì vậy, có thể đánh giá rằng, sự e dè của người tiêu dùng hiện nay chủ yếu xuất phát từ yếu tố tâm lý khi tiếp cận một sản phẩm mới, chứ không phải từ vấn đề chất lượng hay giá cả. Như các chuyên gia đã phân tích tại tọa đàm - từ lợi ích đối với động cơ, môi trường đến kinh nghiệm quốc tế và định hướng chính sách - nếu có sự chung tay của các cấp chính quyền, cơ quan truyền thông và sự lan tỏa từ chính chất lượng sản phẩm, thì niềm tin của người tiêu dùng sẽ dần được củng cố. Khi đó, việc triển khai đồng bộ xăng E10 trên toàn hệ thống sẽ thuận lợi hơn, và tôi tin rằng kế hoạch phát triển E10 RON95 trong thời gian tới sẽ thành công, được người tiêu dùng đón nhận rộng rãi, tâm lý e ngại sẽ dần được xóa bỏ, hướng tới việc tin dùng sản phẩm xăng sinh học E10 một cách bền vững.

Khủng hoảng Trung Đông và bài toán tự chủ năng lượng

MC: Việc đưa xăng E10 vào sử dụng rộng rãi trên cả nước trong thời gian tới sẽ góp phần giúp giảm áp lực điều hành và nguồn cung. Vậy trong trường hợp cần triển khai nhanh và trên diện rộng xăng E10, xin PGS.TS Phạm Hữu Tuyến làm rõ thêm: liệu E10 có thể áp dụng ngay mà không gây rủi ro về kỹ thuật đối với các phương tiện giao thông hay không, thưa ông?

PGS.TS Phạm Hữu Tuyến: Về việc sử dụng phổ biến xăng E10 có ảnh hưởng đến phương tiện hay không, có thể khẳng định rằng: về mặt kỹ thuật, xăng E10 không gây tác động tiêu cực đến hoạt động của các phương tiện giao thông. Như đã phân tích trước đó, khi sử dụng xăng E10 thay thế xăng khoáng truyền thống, các chỉ tiêu về công suất, hiệu suất vận hành cũng như phát thải của phương tiện cơ bản không thay đổi đáng kể. Việc chuyển đổi sang xăng E10, bao gồm cả các loại tương đương RON95, về cơ bản không ảnh hưởng đến khả năng vận hành của động cơ.

Tuy nhiên, cũng giống như khi sử dụng xăng khoáng, để đảm bảo phương tiện hoạt động ổn định và bền bỉ, người sử dụng vẫn cần tuân thủ đầy đủ các quy định về bảo trì, bảo dưỡng theo khuyến cáo của nhà sản xuất. Trên thực tế, với bất kỳ loại nhiên liệu nào, nhà sản xuất phương tiện đều đưa ra các hướng dẫn cụ thể về chu kỳ bảo dưỡng. Do đó, khi chuyển sang sử dụng xăng E10, người dùng chỉ cần tiếp tục thực hiện đúng các khuyến cáo này để đảm bảo chất lượng và tuổi thọ của phương tiện.

Trực tiếp Tọa đàm: Xăng sinh học E10 - Lợi ích hài hòa cho người dân, Nhà nước và doanh nghiệp
Các vị khách mời tại buổi tọa đàm.

Xét tổng thể, xăng E10 là bước chuyển tiếp quan trọng giúp giảm dần phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch, đồng thời cải thiện chất lượng không khí trong ngắn hạn. Trong bối cảnh Việt Nam đang hướng tới mục tiêu trung hòa carbon và phát triển giao thông xanh, E10 đóng vai trò như một giải pháp khả thi, tận dụng được hạ tầng phương tiện hiện có mà vẫn tạo ra tác động tích cực về môi trường. Vì vậy có thể áp dụng xăng E10 ngay mà không gây rủi ro về kỹ thuật đối với các phương tiện giao thông.

MC: Trong bối cảnh hiện nay, cần làm gì để xăng E10 thực sự đi vào cuộc sống? Câu trả lời có lẽ nằm ở cơ chế chính sách, động lực thị trường và sự đồng bộ của toàn bộ chuỗi giá trị. Từ góc độ này, thưa PGS.TS Nguyễn Thường Lạng, trong bối cảnh thị trường năng lượng toàn cầu tiềm ẩn nhiều biến động, đặc biệt do các xung đột địa chính trị, Việt Nam cần có chính sách gì về thuế, phí cũng như hỗ trợ doanh nghiệp nhập khẩu, phân phối xăng dầu - nhất là xăng sinh học?

Từ góc độ kinh tế và hành vi thị trường, có thể thấy người tiêu dùng rất nhạy cảm với giá xăng dầu. Đây là mặt hàng có độ co giãn cầu theo giá cao, nên khi giá biến động, phản ứng của thị trường là rất rõ rệt. Vì vậy, để xăng E10 được sử dụng rộng rãi, yếu tố then chốt trước hết là phải tạo được lợi thế về giá. Cụ thể, xăng sinh học cần có mức giá thấp hơn đủ lớn so với xăng khoáng để kích thích chuyển đổi. Khi chênh lệch giá đủ hấp dẫn, người tiêu dùng sẽ chủ động lựa chọn, từ đó hình thành thói quen tiêu dùng mới. Do đó, trong giai đoạn đầu, cần có cơ chế điều tiết hoặc hỗ trợ giá nhằm tạo “cú hích” cho thị trường. Ở góc độ doanh nghiệp, bài toán là hiệu quả kinh tế. Nếu chi phí gia tăng trong khi lợi ích biên giảm, doanh nghiệp sẽ không mặn mà tham gia. Vì vậy, chính sách cần được thiết kế đồng bộ, giúp giảm chi phí, nâng cao hiệu quả và tạo niềm tin đầu tư dài hạn.

Trực tiếp Tọa đàm: Xăng sinh học E10 - Lợi ích hài hòa cho người dân, Nhà nước và doanh nghiệp

Thực tế Việt Nam đã có những bước đi ban đầu với xăng sinh học, nhưng cần đẩy nhanh hơn để tận dụng cơ hội. Trong đó, chính sách thuế đóng vai trò đặc biệt quan trọng. Ngoài thuế bảo vệ môi trường, cần mạnh dạn áp dụng các ưu đãi như giảm thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập doanh nghiệp đối với hoạt động sản xuất, pha chế, phân phối xăng sinh học. Thậm chí, có thể xem xét miễn thuế trong 5 năm đầu, sau đó giảm dần theo lộ trình khoảng 10 năm để tạo động lực đủ dài cho nhà đầu tư. Bên cạnh thuế, cần giảm chi phí logistics - từ vận chuyển, lưu kho đến phân phối nhằm kéo giảm giá thành sản phẩm. Đồng thời, có thể triển khai các chính sách tín dụng ưu đãi, hỗ trợ lãi suất để khuyến khích doanh nghiệp mở rộng đầu tư, nhất là trong bối cảnh thị trường năng lượng toàn cầu còn nhiều biến động.

Một trụ cột quan trọng khác là cơ chế dự trữ và điều tiết thị trường. Việc nâng cao năng lực dự trữ xăng dầu sẽ giúp ổn định nguồn cung trong các tình huống bất lợi từ bên ngoài. Cùng với đó là hoàn thiện hệ thống phân phối, mở rộng mạng lưới bán lẻ và có các chính sách thương mại phù hợp để thúc đẩy tiêu thụ xăng sinh học. Đồng thời, cần có các chính sách hỗ trợ về đất đai, hạ tầng và đơn giản hóa thủ tục hành chính để giảm rào cản gia nhập thị trường. Khi doanh nghiệp nhìn thấy quy mô thị trường đủ lớn và ổn định, họ sẽ mạnh dạn đầu tư dài hạn.

Về dài hạn, cần phát triển đồng bộ hệ sinh thái cho nhiên liệu sinh học, từ vùng nguyên liệu, công nghiệp chế biến đến hệ thống phân phối và tiêu dùng. Khi các chính sách về giá, thuế, tín dụng, hạ tầng và thị trường được triển khai đồng bộ, sẽ hình thành một “hệ sinh thái” hoàn chỉnh, qua đó tạo niềm tin cho cả doanh nghiệp và người tiêu dùng.

Có thể nói, xăng sinh học là một lĩnh vực còn non trẻ nhưng có ý nghĩa rất quan trọng trong chiến lược chuyển dịch năng lượng. Nếu có cơ chế đủ mạnh, đủ dài và mang tính đột phá, xăng E10 hoàn toàn có thể nhanh chóng đi vào cuộc sống, góp phần ổn định thị trường năng lượng và thúc đẩy phát triển bền vững.

MC: Từ góc độ kinh tế vĩ mô, ông Mai Tuấn Đạt có đồng tình với PGS. TS Nguyễn Thường Lạng? Và ông đánh giá khả năng chuyển từ tư duy “ứng phó bị động” sang “chủ động cấu trúc lại nguồn năng lượng”, trong đó nhiên liệu sinh học như E10 đóng vai trò là một giải pháp dài hạn như thế nào?

Tôi đồng tình với ý kiến đề xuất của PGS.TS Nguyễn Thường Lạng, ở góc nhìn của BSR là đơn vị cung cấp 30% nhiên liệu cho nền kinh tế thì Tổng Công ty luôn ý thức rõ ràng về việc chúng ta cần có tư duy chủ động về nguồn năng lượng. Đây là điều tất yếu khi chúng ta có thể nhận thấy bài học từ các nước không thể tự chủ nguồn cung năng lượng dẫn đến ảnh hưởng đến chủ quyền quốc gia. Với BSR, cách tiếp cận của chúng tôi chính là là giảm sự phụ thuộc vào nguồn nhiên liệu hóa thạch. Dưới sự chỉ đạo của Chính phủ, các Bộ ngành, Petrovietnam thì BSR đã định hướng NLSH và nhiên liệu bền vững là bước đi chiến lược.

Hiện tại, BSR đã triển khai đồng bộ các giải pháp KHCN, ĐMST hướng tới chuyển dịch 100% cơ cấu sản phẩm của NMLD Dung Quất sang hướng bền vững, Cụ thể, dải sản phẩm chính của BSR là bao gồm xăng, dầu diesel. Mới đây, BSR đã thực hiện thành công và cho ra lô sản phẩm dầu diesel sinh học B5 đầu tiên. Đối với nhiên liệu hàng không JET A1, BSR đã triển khai 2 giai đoạn, trong đó giai đoạn 1 đã phối trộn thành công lô JET A1 đầu tiên vào tháng 7/2025 và giai đoạn 2 là tăng cường đầu tư sản xuất nhiên liệu hàng không bền vững SAF. Ngoài các sản phẩm trên, trong tháng 3/2026 đã phối hợp với PVOIL để xuất lô nhiên liệu hàng hải bền vững, ngoài ra còn có sản phẩm năng lượng khác như hạt nhựa sinh học… NLSH nói chung và các dòng nhiên liệu bền vững có vai trò vô cùng quan trọng trong định hướng giúp Việt Nam chủ động tái cấu trúc nguồn năng lượng. Chúng tạo được mở rộng hệ sinh thái từ nông - lâm nghiệp… từ các sản phẩm từ nông nghiệp, phụ phẩm có cơ hội chuyển thành nhiên liệu. Điều này rõ ràng mang lại lợi ích cho các đơn vị sản xuất, lĩnh vực công nghiệp mà giúp cho nền kinh tế quốc gia.

Để khuyến khích người dân sử dụng rộng rãi thì NLSH cũng phải “trả lời” và “làm rõ” được các mối quan tâm của người sử dụng. Trong đó, theo cá nhân tôi, chúng ta cần 3 trụ cột tạo sức hút và niềm tin đối với các sản phẩm NLSH. Thứ nhất là chất lượng phải minh bạch. Ngoài ra, hiệu quả của sản phẩm đối với phương tiện rất quan trọng. Người tiêu dùng sẽ tin vào sản phẩm khi tiêu chuẩn chất lượng được kiểm soát chặt chẽ qua tất cả các câu. Thứ hai là lợi ích kinh tế mang lại cho người tiêu dùng. Với sản phẩm NLSH thì các chính sách thuế hiện nay đang thấp hơn so với sản phẩm hóa thạch, hấp dẫn hơn. Đặc biệt, sau khi có được các cơ sở sản xuất NLSH trong nước thì tính cạnh tranh tốt hơn, giá thành NLSH sẽ giảm đi. Người dân khi đó sử dụng NLSH sẽ có lợi ích hơn. Ngoài ra cần phải có hoạt động tuyên truyền lợi ích khác của NLSH như giảm phát thải… giúp người tiêu dùng thấy được lợi ích kinh tế của NLSH.

Thứ ba là thực tiễn sử dụng. Trong khu vực, Thái Lan đã triển khai E10 từ 2007, Phillippines đã sử dụng từ 2023 áp dụng cho tất cả các loại động cơ. Và qua thời gian sử dụng chưa gặp phải sự cố hay phản hồi về chất lượng. Tại Việt Nam đặc biệt tại Quảng Ngãi đã triển khai thực hiện chương trình xăng E5 trong 8 năm qua chưa nhận được phản hồi tiêu cực. Tôi tin rằng với những lợi ích đó, người dân sẽ lựa chọn NLSH một cách tự nguyện, đảm bảo hài hòa về lợi ích riêng của người dân lẫn lợi ích chung của quốc gia.

Trực tiếp Tọa đàm: Xăng sinh học E10 - Lợi ích hài hòa cho người dân, Nhà nước và doanh nghiệp

MC: Bên cạnh câu chuyện nguồn cung, một vấn đề then chốt là làm sao để thị trường chấp nhận và hình thành thói quen tiêu dùng mới. Thưa TS Đào Duy Anh, nhìn nhận yếu tố kỹ thuật, niềm tin và hành vi tiêu dùng, Bộ Công Thương sẽ có những giải pháp gì để hỗ trợ doanh nghiệp và hệ thống phân phối trong quá trình chuyển đổi sang E10, đặc biệt là ở giai đoạn đầu hình thành thị trường?

TS Đào Duy Anh: Việc thay đổi thói quen tiêu dùng với những mặt hàng tiêu dùng quen thuộc sẽ tạo ra tâm lý e ngại bước đầu. Dưới góc độ quản lý nhà nước, có thể nói xăng dầu là “máu” của nền kinh tế. Do đó, không một quốc gia nào lại bơm "máu độc” vào nền kinh tế. Để đưa ra chương trình NLSH này, Bộ Công Thương đã có sự chuẩn bị rất kỹ càng. Từ năm 2014, Bộ đã thực hiện khảo sát và đánh giá về tình hình sử dụng xăng sinh học trên thế giới và Việt Nam. Việt Nam đã sử dụng thí điểm xăng E5 từ năm 2014 và chính thức sử dụng toàn quốc từ năm 2018. Từ 1/8/2025, PVOIL và Petrolimex đã thử nghiệm phân phối xăng E10 tại Việt Nam. Trong quá trình phân phối, chưa nhận được phản hồi tiêu cực từ khách hàng.

Ngoài ra, chúng tôi đã làm việc với nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước. Đại diện nhà khoa học trong nước tại tọa đàm hôm nay có PGS.TS Phạm Hữu Tuyến - người đã có nhiều thử nghiệm để đánh giá có hay không các tác động tiêu cực đến hiệu suất, tuổi thọ của các động cơ như ông đã chia sẻ trước đó. Bên cạnh đó, kinh nghiệm từ quốc tế chứng minh, Mỹ đã dùng E10 từ những năm 80 thế kỷ trước, ngoài ra còn dẫn chứng từ các nước tôi đã nêu phía trên.

Tôi khẳng định, tác động tiêu cực từ xăng E10 đến hoạt động của động cơ là không đáng kể. Thực chất, từ khi thử nghiệm dùng xăng E10 tại Việt Nam, các lãnh đạo tại Bộ Công Thương, PVOIL, Petrolimex là những người tiên phong, gương mẫu thực hiện, chúng tôi có sự ghi nhận về tình hình thực tế khi sử dụng và khẳng định về chi phí hay tiêu tốn nguyên liệu, ảnh hưởng động cơ đều không có vấn đề khác thường so với xăng khoáng.

Tuy nhiên, việc thay đổi thói quen tiêu dùng với những mặt hàng tiêu dùng quen thuộc sẽ tạo ra tâm lý e ngại bước đầu. Do vậy, trách nhiệm của cơ quan quản lý như Bộ Công Thương, các bộ, ngành sẽ nhận dược sự phối hợp các đơn vị truyền thông để lan tỏa đến người tiêu dùng về ý nghĩa chính xác của chủ trương sử dụng NLSH (bảo vệ môi trường, phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia...), từ đó tạo sự đồng thuận rộng rãi trong xã hội.

MC: Xin mời đại diện PVOIL có thể chia sẻ với Tọa đàm về áp lực nguồn cung trong các giai đoạn biến động địa chính trị vừa qua? Nếu tăng sử dụng xăng sinh học, doanh nghiệp có thể chủ động hơn như thế nào, thưa ông?

Ông Lê Trung Hưng: Như chúng ta đã biết, từ ngày 28/2/2026, liên quan đến các cuộc tấn công quân sự của Mỹ và Israel nhằm vào Iran tại khu vực Trung Đông đã tác động trực tiếp, gây đứt gãy nguồn cung dầu thô và đẩy giá năng lượng toàn cầu tăng vọt. Hiện nay, Việt Nam có hai nhà máy lọc dầu là Nghi Sơn và Dung Quất, với tổng sản lượng cung ứng cho thị trường khoảng 65–70% nhu cầu xăng dầu tiêu dùng trong nước. Phần còn lại, chúng ta vẫn phải nhập khẩu. Trước đây, nguồn nhập khẩu chủ yếu đến từ các nước châu Á và Đông Nam Á, đặc biệt là Hàn Quốc, Malaysia, Singapore, Thái Lan… Tuy nhiên, đa phần các nhà máy cung cấp xăng dầu cho Việt Nam đều sử dụng dầu thô từ Trung Đông. Vì vậy, khi nguồn cung dầu thô từ Trung Đông bị đứt gãy, các nhà máy lọc dầu trong khu vực đã ban bố tình trạng khẩn cấp để đảm bảo an ninh năng lượng trong nước. Điều này dẫn đến việc hạn chế xuất khẩu, khiến trong suốt thời gian đầu tháng 3, cuối tháng 3 và đầu tháng 4 vừa qua, chi phí phụ phí nhập khẩu xăng dầu về Việt Nam tăng rất cao.

Trực tiếp Tọa đàm: Xăng sinh học E10 - Lợi ích hài hòa cho người dân, Nhà nước và doanh nghiệp

Thực tế cho thấy, chưa bao giờ các lô hàng nhập khẩu lại biến động mạnh như vậy, giá thay đổi theo từng ngày, thậm chí từng giờ. Trong bối cảnh đó, các doanh nghiệp đầu mối như Petrolimex hay PVOIL vẫn phải tăng cường nhập khẩu để đảm bảo nguồn cung cho thị trường, dù phụ phí ở mức rất cao, thậm chí mang tính kỷ lục.

Như TS Đào Duy Anh đã chia sẻ: “Xăng dầu là dòng máu của nền kinh tế”, vì vậy chúng ta không thể để đứt gãy. Trong thời gian qua, với sự can thiệp của Chính phủ cũng như sự linh hoạt của Petrovietnam, đặc biệt trong việc đảm bảo nguồn dầu thô cho Nhà máy lọc dầu Nghi Sơn – vốn phụ thuộc nhiều vào dầu thô từ Kuwait - tình hình đã từng bước được cải thiện. Tuy nhiên, nếu căng thẳng địa chính trị tiếp tục kéo dài, áp lực đối với các nhà máy lọc dầu trong nước cũng như trong khu vực sẽ rất lớn. Khi đó, chúng ta buộc phải thay thế bằng các nguồn dầu khác, với chi phí cao hơn, quãng đường vận chuyển xa hơn, làm gia tăng đáng kể chi phí.

Trong bối cảnh đó, với chính sách điều tiết rất sát sao của Nhà nước, Bộ Công Thương và các cơ quan liên bộ trong thời gian qua đã góp phần quan trọng trong việc bình ổn giá xăng dầu trong nước. Nếu không, giá xăng dầu tại Việt Nam có thể đã tăng rất cao như các thị trường trong khu vực. Thực tế, trong tháng 3 và tháng 4 vừa qua, giá xăng dầu có những thời điểm tăng rất mạnh, nhưng khi điều kiện thuận lợi thì cũng giảm ngay, góp phần ổn định kinh tế. Quay trở lại với xăng sinh học, khi chúng ta tăng cường sử dụng xăng E10 thì cũng góp phần vào việc ổn định nguồn cung trong nước. Ethanol hiện nay có một phần được sản xuất trong nước, chiếm khoảng 25-30%, phần còn lại được nhập khẩu từ các nước như Mỹ, Brazil và các quốc gia Nam Mỹ. Hiện nay, giá ethanol vẫn đang thấp hơn so với xăng nền. Vì vậy, việc sử dụng E10 không chỉ góp phần giảm áp lực nguồn cung mà còn giúp chúng ta chuyển từ trạng thái bị động sang chủ động hơn trong việc đảm bảo nguồn cung xăng dầu cho thị trường.

Cơ chế để xăng E10 đi vào thực tiễn

MC: Từ thực tiễn triển khai xăng E5 trước đây và yêu cầu khởi động lại chương trình nhiên liệu sinh học hiện nay, theo ông, đâu là những yếu tố then chốt cần tập trung để đảm bảo lộ trình phát triển xăng E10 đạt hiệu quả như kỳ vọng?

TS Đào Duy Anh: Chương trình chuyển đổi sang sử dụng nhiên liệu sinh học thực chất không phải là mới. Ngay từ Quyết định 53 của Thủ tướng Chính phủ năm 2012, Việt Nam đã xây dựng lộ trình phát triển xăng sinh học, trong đó có E5 và E10. Đến tháng 1/2018, xăng E5 đã được triển khai trên toàn quốc và trong giai đoạn đầu ghi nhận mức tiêu thụ khá tích cực. Tuy nhiên, theo thời gian, sản lượng tiêu thụ có xu hướng giảm dần, khiến lộ trình tiếp theo đối với xăng E10 chưa được triển khai như kế hoạch. Trong bối cảnh yêu cầu chuyển đổi xanh, phát triển nền kinh tế ít phát thải ngày càng cấp thiết, Chính phủ đã giao Bộ Công Thương khởi động lại chương trình nhiên liệu sinh học, với trọng tâm là xăng E10.

Để chuẩn bị cho lộ trình mới, Bộ đã tiến hành rà soát, đánh giá toàn diện, qua đó nhận diện rõ những nguyên nhân khiến việc triển khai E5 trước đây chưa đạt kỳ vọng. Từ thực tiễn đó, Bộ Công Thương xác định ba yếu tố cốt lõi để đảm bảo triển khai thành công xăng sinh học trong giai đoạn tới.

Thứ nhất, cần thường xuyên cập nhật yêu cầu về nhiên liệu phù hợp với sự phát triển của động cơ. Công nghệ động cơ xăng liên tục được cải tiến, kéo theo các tiêu chuẩn kỹ thuật về nhiên liệu cũng thay đổi theo thời gian. Chẳng hạn, từ ngày 1/1/2025, các dòng xe sản xuất, lắp ráp mới tại Việt Nam phải đáp ứng tiêu chuẩn khí thải Euro 5, do đó nhiên liệu sử dụng cũng phải tương thích. Việc lựa chọn và sử dụng xăng nền phù hợp là yếu tố then chốt để đảm bảo hiệu quả vận hành và tuân thủ quy định.

Thứ hai, cần tăng cường sự phối hợp đồng bộ giữa các bộ, ngành, địa phương và các bên liên quan nhằm tháo gỡ kịp thời các vướng mắc cho doanh nghiệp trong toàn bộ chuỗi giá trị - từ sản xuất, phối trộn, lưu thông đến phân phối. Thông qua các cơ chế, chính sách và công cụ quản lý phù hợp, mục tiêu là đưa sản phẩm xăng sinh học đến tay người tiêu dùng với chi phí hợp lý nhất.

Thứ ba, đặc biệt quan trọng, là công tác truyền thông. Thực tế cho thấy, một trong những rào cản lớn đối với xăng sinh học là tâm lý e ngại của người tiêu dùng, xuất phát từ thông tin chưa đầy đủ hoặc chưa chính xác, như lo ngại về ảnh hưởng đến động cơ hay mức tiêu hao nhiên liệu. Vì vậy, cần đẩy mạnh truyền thông một cách minh bạch, khoa học để người dân hiểu đúng, từ đó tạo sự đồng thuận trong xã hội. Bộ Công Thương đã, đang và sẽ tiếp tục phối hợp với các cơ quan, địa phương và các đơn vị truyền thông để triển khai đồng bộ các giải pháp này, qua đó tạo nền tảng vững chắc cho việc thực hiện thành công lộ trình xăng E10, khắc phục những hạn chế của giai đoạn trước.

MC: Thưa PGS.TS Phạm Hữu Tuyến, ông có thể chia sẻ một số mô hình thành công về phát triển nhiên liệu sinh học trên thế giới và bài học nào có thể áp dụng cho Việt Nam?

PGS.TS Phạm Hữu Tuyến: Trên thế giới đã có nhiều mô hình phát triển nhiên liệu sinh học thành công, trong đó tiêu biểu là Mỹ, Brazil và Thái Lan - những quốc gia đã xây dựng được hệ sinh thái tương đối hoàn chỉnh từ sản xuất đến tiêu thụ. Các quốc gia phát triển thành công nhiên liệu sinh học đều có một điểm chung quan trọng, đó là sở hữu nguồn nguyên liệu đầu vào dồi dào và ổn định. Đây là yếu tố then chốt, quyết định khả năng sản xuất với quy mô lớn.

Chẳng hạn, tại Mỹ, ethanol chủ yếu được sản xuất từ ngô - loại nông sản có sản lượng rất lớn. Ở Brazil, nguyên liệu chính là mía đường; còn tại Thái Lan, nguồn nguyên liệu phổ biến là sắn. Việc chủ động được nguồn nguyên liệu giúp các quốc gia này có lợi thế lớn ngay từ đầu, đặc biệt là trong việc kiểm soát chi phí sản xuất.

Thực tế cho thấy, giá thành nhiên liệu sinh học phụ thuộc rất nhiều vào giá nguyên liệu đầu vào. Khi nguồn nguyên liệu dồi dào, chi phí sản xuất sẽ hợp lý hơn, từ đó tạo điều kiện để nhiên liệu sinh học có giá cạnh tranh so với xăng khoáng. Bên cạnh đó, các quốc gia này cũng triển khai nhiều chính sách hỗ trợ mạnh mẽ, như ưu đãi thuế, trợ giá hoặc các cơ chế khuyến khích tiêu dùng. Nhờ vậy, giá nhiên liệu sinh học có thể cạnh tranh với nhiên liệu truyền thống, tạo động lực để người dân lựa chọn sử dụng.

Một yếu tố quan trọng khác là sự tham gia của các nhà sản xuất phương tiện. Các hãng xe thường công bố rõ ràng về khả năng tương thích của động cơ với nhiên liệu sinh học, giúp người tiêu dùng yên tâm hơn khi sử dụng. Điều này góp phần xây dựng niềm tin thị trường một cách bền vững.

Việt Nam có thể rút ra một số bài học quan trọng. Trước hết là cần xây dựng chính sách đồng bộ và ổn định, bao gồm cơ chế hỗ trợ giá, ưu đãi cho doanh nghiệp sản xuất và tiêu thụ nhiên liệu sinh học. Thứ hai là phát triển vùng nguyên liệu bền vững, gắn với nông nghiệp trong nước để chủ động nguồn cung ethanol. Thứ ba là đầu tư hạ tầng phân phối và tăng cường truyền thông, giúp người dân hiểu đúng và tin tưởng sử dụng. Ý thức và trách nhiệm cộng đồng của người sử dụng. Nhiên liệu sinh học không chỉ đáp ứng nhu cầu vận hành phương tiện mà còn góp phần giảm phát thải, hạn chế ô nhiễm môi trường và bảo vệ sức khỏe. Khi nhận thức này được nâng cao, việc sử dụng nhiên liệu sinh học sẽ ngày càng trở nên phổ biến. Ngoài ra, Việt Nam cũng nên thúc đẩy nghiên cứu công nghệ mới, đặc biệt là sản xuất ethanol thế hệ hai từ phụ phẩm nông nghiệp, nhằm giảm áp lực lên đất trồng và nâng cao hiệu quả môi trường. Nếu triển khai đồng bộ các giải pháp trên, Việt Nam hoàn toàn có thể phát triển nhiên liệu sinh học theo hướng bền vững, vừa đảm bảo an ninh năng lượng, vừa góp phần thực hiện mục tiêu giảm phát thải và phát triển giao thông xanh.

Trực tiếp Tọa đàm: Xăng sinh học E10 - Lợi ích hài hòa cho người dân, Nhà nước và doanh nghiệp

MC: Bộ Công Thương vừa hoàn thành dự thảo Thông tư sửa đổi quy định lộ trình áp dụng tỷ lệ phối trộn phối trộn, pha chế xăng E10 sử dụng cho động cơ xăng trên toàn quốc từ ngày 30/4/2026, sớm hơn 1 tháng so với lộ trình cũ. Xin được hỏi TS Đào Duy Anh, với đề xuất này, trong giai đoạn đầu triển khai E10 trên diện rộng toàn quốc, Nhà nước nên ưu tiên hỗ trợ và có những chính sách gì để kích cầu tiêu dùng?

TS Đào Duy Anh: Trong tháng 3, Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị 09 về giải pháp tiết kiệm năng lượng nói chung. Trong đó, Thủ tướng đã giao Bộ Công Thương rà soát về mặt kỹ thuật, kinh tế để đẩy nhanh lộ trình đưa NLSH vào trong tháng 4. Thực hiện Chỉ đạo của Thủ tướng, Bộ đã rà soát điều kiền nguồn cung, năng lực phối trộn của doanh nghiệp, sự sẵn sàng của doanh nghiệp trong việc phân phối tới người tiêu dùng. Đồng thời, Bộ Công Thương đang phối hợp với các bộ ngành để tháo gỡ các khó khăn để triển khai đưa NLSH vào phân phối rộng rãi.

Trước mắt, các doanh nghiệp lớn như Petrolimex và PVOIL, hai doanh nghiệp chiếm tới 75% thị phần xăng dầu của Việt Nam, đã sẵn sàng triển khai phân phối diện rộng xăng E10 ngay trong tháng 4 theo chỉ đạo của Thủ tướng. Hiện tại, đến ngày 16/4, PV OIL đã công bố có 418/988 cây xăng trên toàn quốc phân phối xăng E10 Petrolimex đang phân phối ở TP HCM và Quảng Ngãi, sẽ mở rộng tại Quảng Ninh, Hải Phòng trong những ngày tới sẽ tiếp tục mở rộng mạng lưới phân phối của mình. Để triển khai sớm lộ trình NLSH thì chúng ta phải tháo gỡ khó khăn vướng mắc mà doanh nghiệp đang gặp phải từ nguồn cung xăng dầu nói chung, cũng như ethanol.

Thứ hai là tăng cường năng lực phối trộn của doanh nghiệp. Hiện nay có 12 doanh nghiệp đã đầu tư hệ thống phối trộn, nhưng chỉ có 3 doanh nghiệp có đủ điều kiện để được cấp phép cho việc phối trộn xăng E10. Ngoài ra, thứ ba chính là việc cần phải tháo gỡ ngay một số quy định về mặt kỹ thuật đối với xăng sinh học để các doanh nghiệp ngay lập tức chuyển đổi từ xăng khoáng sang xăng sinh học.

Để hỗ trợ doanh nghiệp trong quá trình chuyển đổi Bộ Công Thương phối hợp với các bộ kiến nghị Chính phủ ban hành chính sách tất cả thuế nhập khẩu xăng dầu, thuế về 0 để hỗ trợ các doanh nghiệp. Bên cạnh đó, Bộ Công Thương cùng các bộ ngành luôn luôn song hành cùng doanh nghiệp trong tháo gỡ khó khăn, đề xuất chính sách thuận lợi nhất để sản xuất phối trộn, phân phối xăng sinh học tới người tiêu dùng thuận lợi và giá cả thấp nhất.

MC: Ngoài những điều chỉnh chính sách được TS. Đào Duy Anh chia sẻ, theo PGS.TS Nguyễn Thường Lạng, Việt Nam cần thêm những cơ chế ưu đãi nào để thúc đẩy thị trường nhiên liệu sinh học?

PGS.TS Nguyễn Thường Lạng: Theo tôi, xăng sinh học là sản phẩm của một ngành công nghiệp còn non trẻ nhưng có ý nghĩa rất quan trọng trong chiến lược chuyển dịch cơ cấu năng lượng của Việt Nam. Tuy nhiên, để ngành này phát triển đúng tiềm năng, cần có những cơ chế ưu đãi đủ mạnh, đủ dài và mang tính đột phá.

Trước hết là chính sách thuế. Cần xem xét áp dụng mức ưu đãi cao hơn, thậm chí miễn thuế trong giai đoạn đầu. Cụ thể, có thể miễn thuế trong 5 năm đầu, sau đó giảm 50% trong 5 năm tiếp theo đối với các sắc thuế như thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập doanh nghiệp. Một chu kỳ ưu đãi khoảng 10 năm là cần thiết để nhà đầu tư có đủ niềm tin và động lực tham gia thị trường.

Thứ hai là các chính sách hỗ trợ tài chính. Nhà nước có thể áp dụng các hình thức hỗ trợ như ưu đãi lãi suất, hỗ trợ chi phí đầu tư ban đầu, hoặc thậm chí trợ giá trong những giai đoạn cần thiết. Đây là những công cụ rất quan trọng để giảm rủi ro cho doanh nghiệp trong giai đoạn đầu. Thứ ba là ưu đãi về đất đai và hạ tầng. Việc tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp tiếp cận đất đai, phát triển hạ tầng sản xuất và phân phối sẽ giúp giảm chi phí đáng kể, từ đó nâng cao sức cạnh tranh của nhiên liệu sinh học.

Bên cạnh đó, cần tháo gỡ các rào cản về thủ tục hành chính, phê duyệt đầu tư, cũng như xây dựng một định hướng chiến lược rõ ràng về quy mô thị trường. Khi doanh nghiệp nhìn thấy tổng cầu đủ lớn và ổn định, họ sẽ mạnh dạn đầu tư dài hạn. Một điểm rất quan trọng là cần có cơ chế tạo cầu. Ngoài khu vực công, có thể khuyến khích các doanh nghiệp lớn, các tập đoàn vận tải, logistics sử dụng xăng sinh học thông qua các chính sách ưu đãi hoặc quy định cụ thể. Đồng thời, cần đẩy mạnh truyền thông để thay đổi nhận thức của người tiêu dùng. Ngoài ra, cần phát triển đồng bộ hệ sinh thái công nghiệp hỗ trợ, từ sản xuất nguyên liệu, thiết bị, vận chuyển đến lưu trữ. Đây là yếu tố nền tảng để ngành nhiên liệu sinh học phát triển bền vững.

Có thể nói, trong giai đoạn hiện nay, Nhà nước cần đóng vai trò “bà đỡ”, chủ động kiến tạo một hệ sinh thái chính sách đủ mạnh. Nếu chính sách vẫn mang tính nhỏ giọt, thiếu đồng bộ, sẽ rất khó tạo ra cú hích cần thiết. Ngược lại, nếu có chính sách đúng và đủ, nhiên liệu sinh học không chỉ là một sản phẩm thay thế, mà còn có thể trở thành một ngành công nghiệp nền tảng, góp phần quan trọng vào mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển bền vững của đất nước.

MC: Bên cạnh những ưu đãi chính sách mà các chuyên gia đề xuất thì câu chuyện vùng nguyên liệu để Việt Nam chủ động nguyên liệu sản xuất ethanol trong nước cũng rất quan trọng. Với đặc thù xăng sinh học gắn liền với nguồn nguyên liệu ethanol trong nước, thưa ông Mai Tuấn Đạt, theo ông thì chúng ta phải làm gì để khuyến khích hình thành chuỗi cung ứng khép kín, ổn định vùng nguyên liệu và chuỗi sản xuất xăng E10?

Ông Mai Tuấn Đạt:Thực tiễn quốc tế cho thấy, nhiên liệu sinh học chỉ có thể phát triển bền vững khi quốc gia đó tự chủ được chuỗi nguyên liệu ở quy mô lớn, với mức độ liên kết cao. Chuỗi này bao gồm rất nhiều yếu tố: từ đất, nước, giống (như mía, ngô, sắn, vi tảo…) đến phân bón, nhân công, vận chuyển, sơ chế, rồi mới đến nhà máy sản xuất ethanol. Sau khi sản xuất, ethanol lại tiếp tục được vận chuyển đến các cơ sở phối trộn với xăng khoáng, tạo thành một chuỗi liên hoàn. Có thể nhìn vào Brazil - quốc gia đã áp dụng E30 - với năng lực sản xuất ethanol hơn 30 triệu m³/năm. Trong khi đó, Việt Nam hiện mới đạt khoảng 0,6 triệu m³/năm, là con số rất nhỏ. Thành công của họ đến từ việc nhà máy được đặt ngay giữa vùng nguyên liệu, có liên kết hữu cơ, ổn định giữa nông trại và nhà máy chế biến, nên không phải lo về nguồn cung đầu vào.

Ở Việt Nam, khi triển khai E10, riêng cho xăng đã cần khoảng 1 triệu m³ ethanol mỗi năm, chưa tính đến dầu diesel sinh học hay nhiên liệu hàng không bền vững. Nếu tính theo nguyên liệu sắn, để sản xuất 1 triệu m³ ethanol, chúng ta cần khoảng 2,5 triệu tấn sắn, tương đương với hơn 100.000 ha đất trồng mỗi năm. Thực tế cho thấy, nhiều nhà máy sau khi xây dựng đã gặp khó khăn về hiệu quả sản xuất do vấn đề nguyên liệu: hoặc không mua được, hoặc mua được thì giá cao; đồng thời phải cạnh tranh với các ngành sử dụng nguyên liệu khác. Để đảm bảo thành công, chúng ta cần tận dụng cơ hội này để tái kiến trúc chuỗi cung ứng ethanol, hướng tới tự chủ trong nước. Nhập khẩu thì đơn giản hơn, nhưng điều quan trọng là phải mở rộng quy mô kinh tế nông nghiệp, lâm nghiệp và xây dựng chuỗi cung ứng nội địa dựa trên bài học quốc tế. Bản thân tôi hiện cũng được giao phụ trách Nhà máy nhiên liệu sinh học Dung Quất và đang tập trung khôi phục sản xuất.

Chương trình E10 thực sự là cơ hội đối với các nhà máy nhiên liệu sinh học trong nước. Qua quá trình quản trị, chúng tôi xác định một trong những nhiệm vụ trọng tâm là phải kiến tạo được chuỗi cung ứng ổn định, để nhà máy có thể vận hành liên tục. Điều này đòi hỏi chuỗi đầu vào - đầu ra phải thông suốt, liên tục. Có ba yếu tố quan trọng cần sự tham gia của các bộ, ngành và địa phương: Quy hoạch vùng nguyên liệu xung quanh nhà máy, đảm bảo cung cấp 70-80% nhu cầu; Thiết lập cơ chế giá và bao tiêu đủ hấp dẫn để tạo động lực cho nông dân tham gia; Tổ chức chuỗi khép kín, tối ưu hóa chi phí, đặc biệt là chi phí vận chuyển.

Hiện nay, chúng tôi đang từng bước kiến tạo lại chuỗi cung ứng này tại Dung Quất cũng như các nhà máy khác, tận dụng tối đa các nguồn lực sẵn có. Ví dụ, toàn bộ nước thải và chất thải rắn từ nhà máy được định hướng chuyển hóa thành phân hữu cơ, quay trở lại phục vụ sản xuất nguyên liệu, từ đó hình thành một chuỗi khép kín, ổn định, giảm chi phí và tăng tính hấp dẫn. Khi đó, giá thành ethanol sẽ có khả năng cạnh tranh thực sự với xăng khoáng.

Tóm lại, tôi muốn nhấn mạnh rằng, bài toán E10 không nằm ở khâu phối trộn - đó là phần tương đối đơn giản - mà phụ thuộc vào việc chúng ta có thể kiến trúc và vận hành thành công một chuỗi cung ứng nội địa đủ lớn, đáp ứng nhu cầu sản xuất đang tăng lên. Nếu làm được điều này, không chỉ ethanol, mà cả nhiên liệu hàng không bền vững, diesel sinh học… đều có thể trở thành những sản phẩm cạnh tranh, từng bước thay thế nhiên liệu hóa thạch.

Trực tiếp Tọa đàm: Xăng sinh học E10 - Lợi ích hài hòa cho người dân, Nhà nước và doanh nghiệp

MC: Xin được hỏi đại diện PVOIL, đơn vị hiện đã sẵn sàng như thế nào về nguồn cung, hạ tầng pha chế và hệ thống phân phối để triển khai xăng E10 trên diện rộng?

Ông Lê Trung Hưng: Cuối năm 2025, chúng tôi đã chủ động phối hợp với Cục Tư vấn và các đơn vị khoa học - công nghệ để triển khai đầu tư theo lộ trình, bao gồm nâng cấp cơ sở vật chất, mở rộng hệ thống trang thiết bị kỹ thuật phục vụ pha chế xăng sinh học. Đến nay, chúng tôi đã có 13 điểm pha chế xăng E10 trên toàn quốc, trong đó có 6 điểm có khả năng pha chế đồng thời cả E10, E5 và RON92 theo các hình thức phối trộn và vận hành song song. Trong quá trình cung ứng sản phẩm ra thị trường từ tháng 8 đến nay, chúng tôi đã triển khai gần như hoàn thiện việc phân phối theo nhiều phương thức tại 8 địa điểm, phần còn lại đang tiếp tục hoàn thiện. Nhìn chung, hệ thống đã sẵn sàng để cung ứng ra thị trường khi có quy định triển khai đồng bộ trên toàn quốc. Bên cạnh đó, chúng tôi cũng đã nâng cấp hệ thống kho chứa và tồn trữ nhiên liệu. Đến tháng 4/2026, tổng công suất kho chứa đạt hơn 300.000 m³, trong đó bao gồm các kho xăng E10, E5 và RON92. Dự kiến đến hết năm 2026, công suất sẽ được nâng lên gần 400.000 m³.

Đối với nhiên liệu E100 (ethanol), chúng tôi cũng đã nâng công suất hệ thống tồn chứa thêm khoảng 40.000 m³, phục vụ toàn bộ hệ thống kho trên cả nước. Với năng lực hiện tại, chúng tôi không chỉ đảm bảo cung ứng cho hệ thống phân phối hiện hữu và khách hàng truyền thống, mà còn sẵn sàng cung cấp cho các đối tác khác khi họ chưa kịp hoàn thiện điều kiện pháp lý và hạ tầng kỹ thuật. Về công tác quản lý chất lượng và triển khai kỹ thuật, Bộ Công Thương cùng các đơn vị chuyên môn như Cục Khoa học và Công nghệ, Ủy ban Chất lượng thường xuyên tổ chức các cuộc họp, hội thảo và có sự chỉ đạo sát sao. Khi các cơ sở đáp ứng đủ điều kiện pha chế, các đoàn công tác sẽ trực tiếp kiểm tra, đánh giá và cấp chứng nhận hợp quy. Trong năm 2025, tôi cũng thường xuyên tham gia cùng các đoàn kiểm tra để đánh giá và cấp chứng nhận cho các điểm pha chế. Việc chậm triển khai ở một số đầu mối chủ yếu là do quá trình đầu tư hạ tầng và thiết bị cần thời gian hoàn thiện.

Song song với đó, chúng tôi đã chủ động làm việc với các nhà máy sản xuất ethanol trong nước, đồng thời triển khai nhập khẩu để đảm bảo nguồn cung ổn định. Đến nay, lượng tồn kho và nguồn nhập khẩu của doanh nghiệp đã đủ để phục vụ sản xuất và pha chế đến hết tháng 5, và đảm bảo cung ứng tiếp sang đầu tháng 6. Chúng tôi sẵn sàng chủ động nguồn cung E100 cũng như E10 để đáp ứng lộ trình triển khai của Nhà nước, có thể từ mốc 1/6 hoặc sớm hơn nếu được yêu cầu. Đồng thời, doanh nghiệp cũng đã sẵn sàng cho việc kinh doanh đại trà xăng E10 trên toàn hệ thống và phối hợp cung cấp thông tin, dữ liệu khi cần thiết.

Kỳ vọng của doanh nghiệp về vai trò điều phối của Nhà nước trong việc vừa bảo đảm nguồn cung ổn định, hài hoà lợi ích giữa các chủ thể trong chuỗi, vừa tạo niềm tin cho DN và người tiêu dùng Thứ nhất, hiện nay các doanh nghiệp đầu mối lớn, trong đó có PVOIL, đã có một số kiến nghị liên quan đến tiêu chuẩn kỹ thuật, đặc biệt là về tỉ lệ oxy, chỉ số octan và các yêu cầu kỹ thuật đối với xăng sinh học. Những nội dung này đã được Bộ Khoa học và Công nghệ tiếp nhận và đang phối hợp với các bộ, ngành liên quan để xem xét, hoàn thiện, nhằm sớm ban hành hướng dẫn thống nhất, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp trong quá trình triển khai đồng bộ. Thứ hai, về cơ chế, chính sách, đặc biệt là các vấn đề liên quan đến thuế và ưu đãi, các doanh nghiệp cũng đã có kiến nghị cụ thể. Bộ Công Thương đã ghi nhận các ý kiến này và đang tiếp tục chuyển tới các cơ quan chức năng để xem xét, cho ý kiến xử lý theo thẩm quyền. Thứ ba, yếu tố rất quan trọng là thời điểm triển khai đồng bộ trên phạm vi toàn quốc. Nếu xác định rõ lộ trình và thời điểm áp dụng thống nhất, cùng với việc chỉ triển khai các mặt hàng xăng như E5, RON92 và E10, thì sẽ tạo được sự đồng bộ trong hệ thống. Khi đó, cùng với công tác truyền thông, sự đón nhận của thị trường và việc làm rõ lợi ích của xăng sinh học, quá trình triển khai sẽ thuận lợi, thống nhất và hiệu quả hơn.

Phát biểu kết thúc tọa đàm, thay mặt Ban Biên tập, nhà báo Lê Hà Thanh Ngọc - Phó Tổng Biên tập Tạp chí Năng lượng Mới/PetroTimes, trân trọng cảm ơn những phân tích sâu sắc và các góc nhìn giàu giá trị thực tiễn các diễn giả tham dự tọa đàm. Qua các nội dung trao đổi tại tọa đàm, nhà báo Lê Hà Thanh Ngọc nhấn mạnh có thể khẳng định tính an toàn, hiệu quả, hiệu suất đối với động cơ của xăng E10. Đồng thời, việc sử dụng nhiên liệu sinh học chính là giải pháp quan trọng, hướng tới mục tiêu chuyển đổi xanh và giảm phát thải của nước. Bên cạnh đó, để triển khai được E10 thuận lợi thì cũng cần có thêm các cơ chế chính sách, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp kinh doanh cũng như sản xuất nhiên liệu sinh học.

Nhân dịp này, nhà báo Lê Hà Thanh Ngọc cũng gửi lời cảm ơn đến các diễn giả, đồng nghiệp và đặc biệt là các đơn vị đồng hành như Tổng Công ty Lọc hóa dầu Việt Nam (BSR) và Tổng Công ty Dầu Việt Nam (PVOIL) đã hỗ trợ tổ chức thành công buổi tọa đàm.

Nhóm Phóng viên

DMCA.com Protection Status