Lo ngại chồng chéo quy định với hoạt động dầu khí biển tại Dự thảo Bộ luật Hàng hải và Đường thủy
![]() |
| Theo VCCI, Dự thảo Bộ luật Hàng hải và Đường thủy Việt Nam bổ sung thêm nhiều quy định mới nhưng chưa lượng hóa được tác động và chi phí tuân thủ. |
Bộ Xây dựng đang tiến hành hợp nhất Bộ luật Hàng hải Việt Nam năm 2015 và Luật Giao thông đường thủy nội địa năm 2004 nhằm xây dựng Dự thảo Bộ luật Hàng hải và Đường thủy Việt Nam. Đây là bước đi quan trọng, thể hiện việc chuyển đổi tư duy từ “quản lý chia cắt” sang “quản lý chuỗi logistics thông suốt”, góp phần giảm chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp.
Tuy nhiên, trong văn bản gửi Cục Pháp luật quốc tế và Giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế, Bộ Tư pháp, VCCI cho rằng việc đưa công trình dầu khí và công trình năng lượng tái tạo trên biển vào diện quản lý đăng kiểm hàng hải chuyên ngành chưa được đánh giá tác động toàn diện.
Theo VCCI, điều này có thể tạo ra “rủi ro rất lớn về tình trạng chồng chéo thẩm quyền kiểm tra kỹ thuật giữa Bộ Xây dựng và Bộ Công Thương, đồng thời đặt ra vấn đề liệu doanh nghiệp có phải thực hiện nghĩa vụ tương tự với nhiều cơ quan quản lý hay không.
VCCI cũng lưu ý, Báo cáo rà soát pháp luật chưa thể hiện nội dung rà soát với Luật Dầu khí, trong khi Dự thảo Bộ luật có nhiều quy định liên quan đến lĩnh vực này.
VCCI cho rằng, hồ sơ hiện chưa làm rõ việc đưa các công trình dầu khí vào diện quản lý một phần của Bộ luật Hàng hải và Đường thủy Việt Nam, sẽ làm phát sinh những nghĩa vụ tuân thủ mới nào đối với doanh nghiệp dầu khí, cũng như các chi phí thủ tục phát sinh từ sự giao thoa giữa các quy định pháp luật.
Lo ngại gia tăng chi phí tuân thủ
Một vấn đề khác được VCCI nhấn mạnh là việc dự thảo bổ sung nhiều quy định mới nhưng chưa lượng hóa được chi phí tuân thủ và không có cơ sở để đánh giá Bộ luật mới thực sự cắt giảm hay làm tăng gánh nặng chi phí cho doanh nghiệp.
Báo cáo đánh giá tác động mới tập trung vào thủ tục hành chính, bình đẳng giới và chính sách dân tộc, chủ yếu thiên về phân tích định tính và đang thiếu những đánh giá về kinh tế và bộ máy thực thi hệ thống quy định mới.
VCCI dẫn ra một số nội dung mới trong dự thảo như yêu cầu áp dụng “Mã định danh cảng biển”; yêu cầu kỹ thuật về “Cảng xanh”, “Cảng thông minh”, “Nhiên liệu thay thế”; hay việc bổ sung kiểm định, giám sát kỹ thuật đối với công trình dầu khí và công trình năng lượng tái tạo trên biển vào hoạt động đăng kiểm chuyên ngành hàng hải.
Liên quan đến mục tiêu cắt giảm thủ tục hành chính, VCCI cho biết, Báo cáo đánh giá tác động nêu giảm 54 thủ tục, từ 157 xuống còn 103 thủ tục. Tuy nhiên, con số trên hiện mới dừng lại ở “đếm thủ tục”, chưa có phụ lục liệt kê chi tiết và chưa tính toán được tổng số tiền hoặc thời gian dự kiến tiết kiệm được. VCCI đề nghị cơ quan soạn thảo bổ sung việc lượng hóa chi phí tuân thủ hành chính đối với các thủ tục mới, thủ tục được giữ lại hoặc sửa đổi.
VCCI cũng đề nghị định lượng tác động của các quy chuẩn bảo vệ môi trường biển. Theo đó, báo cáo cần làm rõ, nếu nâng cao tiêu chuẩn xả thải từ các công trình dầu khí trên biển để phù hợp với các công ước quốc tế về hàng hải mà Việt Nam tham gia thì các doanh nghiệp dầu khí sẽ phải đầu tư thêm bao nhiêu chi phí cho hệ thống xử lý nước thải, dầu tràn trên giàn khoan, đồng thời cần xác định lộ trình áp dụng phù hợp.
Một trong những nội dung được VCCI tập trung góp ý là Điều 18 của Dự thảo về thời hạn hoạt động và chuyển giao dự án đầu tư xây dựng bến cảng biển.
Theo Dự thảo, khi hết thời hạn hoạt động của dự án, Nhà nước thực hiện thu hồi dự án, nhà đầu tư phải bàn giao nguyên trạng kết cấu hạ tầng cảng biển cho cơ quan nhà nước và không được bồi hoàn giá trị tài sản.
VCCI cho rằng, quy định này chưa thống nhất với Luật Đầu tư năm 2025. Theo quy định của Luật Đầu tư, khi hết thời hạn hoạt động của dự án đầu tư, nếu nhà đầu tư có nhu cầu tiếp tục thực hiện dự án và đáp ứng điều kiện theo quy định của pháp luật thì được xem xét gia hạn hoạt động dự án.
Theo VCCI, việc Dự thảo quy định hết thời hạn dự án thì Nhà nước sẽ thu hồi để tổ chức quản lý khai thác hoặc lựa chọn nhà đầu tư, đơn vị khai thác là chưa phù hợp với Luật Đầu tư vì nhà đầu tư có quyền được gia hạn dự án.
Đối với quy định nhà đầu tư đang khai thác dự án được tham gia lựa chọn lại để tiếp tục đầu tư, khai thác kết cấu hạ tầng cảng biển, VCCI cho rằng quy định này sẽ tạo ra rủi ro rất lớn cho nhà đầu tư khi có nguy cơ không được tiếp tục khai thác dự án mà mình đã bỏ vốn để đầu tư ban đầu.
VCCI đề nghị quy định theo hướng khi hết thời hạn dự án đầu tư, nếu nhà đầu tư đáp ứng các điều kiện theo quy định và có nhu cầu thì được thực hiện thủ tục gia hạn dự án theo quy định của pháp luật đầu tư.
Theo cơ quan này, quy định chuyển giao dự án và lựa chọn nhà đầu tư khác khai thác chỉ nên áp dụng trong trường hợp dự án hết thời hạn hoạt động và nhà đầu tư không đáp ứng điều kiện để tiếp tục khai thác, không còn nhu cầu khai thác hoặc thuộc trường hợp chấm dứt dự án đầu tư theo quy định của pháp luật đầu tư.
Diệu Phương

