Luật Dầu khí cần kịp thời sửa đổi

07:00 | 15/11/2021

34,237 lượt xem
|
(PetroTimes) - Sau 13 năm thực hiện Luật Dầu khí sửa đổi năm 2008, thực tế cho thấy có nhiều vướng mắc, chồng chéo với nhiều quy định khác và không còn phù hợp với bối cảnh mới, hội nhập kinh tế sâu rộng, biến động của kinh tế chính trị dầu khí thế giới, khu vực, cũng như hiện trạng tài nguyên dầu khí nước ta,… cần phải thay đổi để tạo điều kiện thông thoáng cho các nhà đầu tư, thúc đẩy ngành Dầu khí phát triển, tiếp tục đóng góp tích cực cho kinh tế và an ninh năng lượng quốc gia.

Thiếu vốn cho tìm kiếm thăm dò, gia tăng trữ lượng Dầu khí

Sau 35 năm khai thác tấn dầu thương mại đầu tiên ngày 26/6/1986, nhiều mỏ dầu truyền thống chủ lực đóng góp sản lượng quan trọng cho Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (Petrovietnam) như Bạch Hổ, Sư Tử, Rạng Đông, Cá Ngừ Vàng, Lan Tây cung cấp gần 600 triệu tấn dầu khí quy đổi, đã qua giai đoạn khai thác đỉnh và bước vào cuối đời mỏ. Sản lượng khai thác suy giảm, độ ngập nước cao, đòi hỏi phải đầu tư thêm các giải pháp công nghệ để tận khai thác (tận thu hồi dầu). Một số mỏ khí có hàm lượng condensate cao sau một thời gian khai thác đã có hiện tượng lắng đọng condensate dẫn đến giảm sản lượng cả khí và condensate. Trong khi các mỏ mới được đưa vào khai thác rất hạn chế do thiếu vốn đầu tư tìm kiếm - thăm dò (TKTD) và khó khăn, vướng mắc trong thực hiện các thủ tục đầu tư. Thực trạng đó khiến sản lượng khai thác liên tục giảm sút qua các năm. Theo thống kê từ năm 2015 đến nay, sản lượng khai thác dầu trong nước liên tục sụt giảm, từ mức 16,9 triệu tấn năm 2015; xuống 15,2 triệu tấn năm 2016; 13,4 triệu tấn năm 2017; 12 triệu tấn năm 2018; 11 triệu tấn năm 2019; 9,7 triệu tấn năm 2020 và dự báo tiếp tục giảm trong các năm tiếp theo.

Kết quả trên phản ánh hiện tượng sụt giảm sản lượng tự nhiên của các mỏ hiện hữu khi ở vào giai đoạn cuối đời mỏ, trong khi hệ số gia tăng trữ lượng bù trừ vào sản lượng khai thác trong những năm qua đã suy giảm đến mức đáng lo ngại. Gia tăng trữ lượng dầu khí giai đoạn 2015-2020 chỉ đạt khoảng 19 triệu tấn quy dầu/năm so với mục tiêu là 28 - 41 triệu tấn quy dầu/năm theo Nghị quyết số 41-NQ/TW của Bộ Chính trị, ban hành ngày 23/7/2015 về định hướng Chiến lược phát triển ngành Dầu khí Việt Nam đến năm 2025 và tầm nhìn đến năm 2035.

Ngày 23/4/2005: Phát hiện khí - condensate tại giếng khoan TƯ-1X, mỏ Thiên Ưng - Mãng Cầu thuộc Lô 04-3, bồn trũng Nam Côn Sơn - ảnh Vietsovpetro
Phát hiện khí - condensate tại giếng khoan TƯ-1X, mỏ Thiên Ưng - Mãng Cầu thuộc Lô 04-3, bồn trũng Nam Côn Sơn vào năm 2005 - Ảnh Vietsovpetro

Trong những năm qua, hoạt động TKTD dầu khí gặp nhiều khó khăn do tình hình Biển Đông diễn biến phức tạp dẫn tới một số dự án có khả năng gia tăng trữ lượng lớn phải tạm dừng triển khai theo kế hoạch thăm dò, khai thác. Đặc biệt, giá dầu suy giảm kéo dài, dẫn đến ở trong nước, các nhà thầu nước ngoài xem xét lại kế hoạch và quyết định giảm khối lượng giếng khoan thăm dò thẩm lượng. Các vướng mắc về cơ chế chính sách dẫn đến nguồn vốn để thực hiện công tác TKTD gặp khó khăn, suy giảm nghiêm trọng. Nguồn vốn để thực hiện công tác TKTD giai đoạn 2016 – 2020 chỉ đạt khoảng 28 – 30% so với giai đoạn 2011 – 2015. Trong khi đó, việc hình thành Quỹ TKTD gặp vướng mắc do không phù hợp với Luật thuế thu nhập doanh nghiệp hiện hành.

Ông Vũ Quang Nam - nguyên Phó Tổng giám đốc Petrovietnam, Phó Chủ nhiệm CLB Doanh nghiệp Dầu khí cho biết: Nếu ngành Dầu khí không có vốn thì không làm được gì cả, vì cần vốn rất lớn. Như TKTD một giếng thông thường mất khoảng 10 – 15 triệu USD. Trước đây khi khai thác dầu khí xong, sẽ trích thẳng một tỷ lệ phần trăm nhất định 10 – 15% để lại cho dầu khí đầu tư TKTD, sau đó sẽ hạch toán sau. Còn hiện nay, tất cả sẽ nộp vào NSNN sau đó ngân sách mới trích lại để đầu tư cho ngành Dầu khí. “Miếng bánh” ngân sách đặt trước bài toán cân đối sẽ rất khó khăn với dầu khí trong việc bố trí vốn để tái đầu tư.

Hội Dầu khí Việt Nam cho biết, Điều 32 của Luật Dầu khí – điểm 2 có ghi “Thu nhập từ hoạt động dầu khí sau khi nộp thuế thu nhập doanh nghiệp được ngân sách nhà nước giao lại một phần hợp lý cho Tập đoàn Dầu khí Việt Nam để đầu tư phát triển các dự án dầu khí theo quy định của pháp luật”. Tuy nhiên, phần nhà nước để lại cho hoạt động TKTD bị giới hạn, không đủ để đầu tư phát triển. Do thiếu vốn thăm dò nên việc gia tăng trữ lượng hết sức khó khăn.

Cơ chế chính sách cho ngành Dầu khí cần phải thay đổi

Các chuyên gia cho rằng, đặc thù của hoạt động thăm dò – khai thác dầu khí là sự rủi ro cao do những bất cập về tiềm năng của lòng đất, an ninh địa chính trị, biến động giá dầu,… vì thế không thể điều tiết bởi Luật Xây dựng cơ bản như hiện nay. Thế giới có thống kê, khoan 8-10 giếng khoan thăm dò mới có một phát hiện dầu khí mới (được cho là thành công). Trong khi đó, ở Việt Nam mô hình đầu tư, quản trị rủi ro, nguồn vốn chưa đầy đủ, chưa có quy định phù hợp thông lệ quốc tế cho các hoạt động này.

Hiện nay, các phát hiện dầu khí mới ở khu vực truyền thống ngày càng giảm và nhỏ, do đó phải đẩy mạnh TKTD ở khu vực nước sâu, xa bờ, phức tạp, nên Luật Dầu khí sửa đổi năm 2008 và các điều khoản trong Hợp đồng (mẫu) phân chia sản phẩm không còn phù hợp và không khuyến khích đầu tư vào các mỏ nhỏ và mỏ cận biên kinh tế, cũng như các mỏ đang ở thời kỳ khai thác tận thu hồi. Vì vậy, chưa thu hút được các nhà đầu tư nước ngoài như kỳ vọng. Luật Dầu khí chưa quy định cụ thể về trình tự, thủ tục đầu tư đối với các dự án thăm dò và khai thác dầu khí (như việc phê duyệt báo cáo đầu tư,…) dẫn đến thiếu đồng bộ trong hệ thống pháp luật áp dụng cho hoạt động thăm dò khai thác dầu khí.

Cơ chế chính sách, khung pháp lý cần sửa đổi để tạo điều kiện thông thoáng thu hút đầu tư trong tình hình mới
Cơ chế chính sách, khung pháp lý cho hoạt động Dầu khí cần sửa đổi để tạo điều kiện thông thoáng, thu hút đầu tư trong tình hình mới - Ảnh Phạm Phương

Theo TS. Ngô Thường San – Chủ tịch Hội Dầu khí Việt Nam, các mỏ dầu mới thường có trữ lượng nhỏ, cận biên kinh tế, mỏ phi truyền thống, thời gian khai thác ngắn, cần có giải pháp và cách tiếp cận linh hoạt, giao quyền nhiều hơn cho Petrovietnam, đặc biệt trong quyết định đầu tư và hình thức đầu tư. Cùng với đó, hoạt động thăm dò khai thác dầu khí hiện tập trung ở vùng biển nông đến 200 mét nước sâu, để gia tăng trữ lượng và duy trì sản lượng lâu dài cần phải tiến ra vùng biển xa bờ, nước sâu đến trên 1.000 mét nước đòi hỏi vốn đầu tư lớn, nhân lực có trình độ kỹ thuật và công nghệ cao. Hơn nữa đây là vùng biển nhiều rủi ro trong viêc triển khai thăm dò và phát triển mỏ vì thế cần có những khuyến khích tốt hơn, cơ chế thuận lợi để các nhà đầu tư nhanh chóng phát triển dự án.

TS. Ngô Thường San cho rằng, các cơ chế chính sách cho ngành Dầu khí chưa kịp thời thay đổi, có nhiều quy định trong các Luật chi phối hoạt động dầu khí như Luật Đấu thầu, Luật Đầu tư, Luật Xây dựng cơ bản xung đột với “Hợp đồng khung dầu khí”, Luật Dầu khí, thông lệ Dầu khí quốc tế, không phù hợp với bối cảnh hội nhập kinh tế sâu rộng, biến động của kinh tế chính trị dầu khí thế giới, khu vực, hiện trạng tài nguyên dầu khí và vấn đề an ninh năng lượng quốc gia; không hỗ trợ để các doanh nghiệp dầu khí vượt qua sự cạnh tranh khốc liệt không những do sức ép của sự biến động tiêu cực của giá dầu mà quan trọng hơn là sự đòi hỏi phải đầu tư đổi mới công nghệ, nhanh chóng ứng dụng và phát triển các thành quả của CMCN 4.0, tăng sức hấp dẫn đầu tư nước ngoài.

Dầu khí là ngành kinh tế - kỹ thuật đặc biệt, gắn liền không chỉ bài toán năng lượng mà là chuỗi giá trị kinh tế trong chiến lược phát triển đất nước, đảm bảo sự tự chủ về nhiên liệu, đảm bảo nguồn năng lượng, nguyên liệu đầu vào cho các ngành kinh tế như nông nghiệp (phân bón), hóa dầu như nhựa và sản phẩm tiêu dùng chất dẻo, nguyên liệu xuất xứ nội địa cho các ngành dệt may, da giày, các sản phẩm hóa chất…, và đặc biệt là động lực phát triển kinh tế vùng, tham gia bảo vệ chủ quyền biển đảo, đóng góp ngân sách nhà nước. Vì là ngành kinh tế đặc biệt nên các quốc gia đều có cách ứng xử đặc biệt riêng đối với nó, các nước còn xây dựng hành lang pháp lý đồng bộ hoàn chỉnh cho toàn chuỗi giá trị, chứ không riêng lĩnh vực hợp tác đầu tư trong thăm dò khai thác dầu khí. Do đó, các cơ quan chức năng liên quan ở nước ta cần bổ sung, điều chỉnh, sửa đổi Luật Dầu khí 2008 và các văn bản pháp quy dưới Luật phù hợp với đặc thù của ngành, hiện trạng kinh tế dầu khí thế giới, tiềm năng dầu khí trong nước, nhằm kích thích đầu tư nước ngoài tận khai thác các mỏ đang suy giảm, nâng cao hệ số thu hồi dầu, đầu tư phát triển các mỏ cận biên kinh tế, các vùng khó khăn nước sâu, xa bờ.

Hiện nay, hoạt động dầu khí bị điều tiết bởi nhiều luật: Dầu khí, Xây dựng cơ bản, Đầu tư công, Quản lý vốn nhà nước,… với rất nhiều vướng mắc, xung đột lẫn nhau, quy trình rắc rối, khó thực hiện, kéo dài, gây nguy cơ về pháp lý cho người thực hiện, kìm hãm sự phát triển của ngành. Do đó, cần có Luật Dầu khí bao trùm điều tiết toàn chuỗi dây chuyền công nghệ dầu khí, tạo điều kiện khuyến khích các nhà đầu tư triển khai công việc trong tình hình mới.

Xuyên suốt quá trình hình thành và phát triển của ngành Dầu khí, Đảng, Chính phủ đánh giá rất cao vai trò của ngành, đã rất quan tâm đầu tư, ra Luật, Nghị quyết, chỉ đạo hoạt động của ngành. Nhờ đó, ngành Dầu khí đã phát triển rất mạnh, thực sự đóng góp lớn cho sự phát triển của đất nước cho đến ngày hôm nay. Trong bối cảnh mới, rất cần thiết sửa đổi khung pháp lý một cách phù hợp, kịp thời, để tạo điều kiện thúc đẩy ngành Dầu khí tiếp tục phát triển, đóng góp cho đất nước.

M.P

Ưu thế của các điều khoản ưu đãi tài chính dành cho các mỏ đặc thù trong những chính sách mới của MalaysiaƯu thế của các điều khoản ưu đãi tài chính dành cho các mỏ đặc thù trong những chính sách mới của Malaysia
Sửa đổi Luật Dầu khí để góp phần phát triển kinh tế và bảo vệ Tổ quốcSửa đổi Luật Dầu khí để góp phần phát triển kinh tế và bảo vệ Tổ quốc
Luật Dầu khí cần mang đặc thù dầu khíLuật Dầu khí cần mang đặc thù dầu khí

DMCA.com Protection Status