Những ngày đầu thành lập ngành Dầu khí Việt Nam và Công ty Dầu khí Việt Nam

15:28 | 05/12/2011

733 lượt xem
|
Ngay sau khi giải phóng miền Nam 30/4/1975, thì ngày 9/8/1975, Bộ Chính trị đã có Nghị quyết số 224, NQTƯ về việc triển khai thăm dò dầu khí trong cả nước và đã có quyết định thành lập Tổ chức thống nhất về Dầu khí trong cả nước.

Trương Thiên – Nguyên Tổng giám đốc
Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam

Trương Thiên - Nguyên Tổng giám đốc Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam.

Tách các tổ chức làm công tác dầu khí ở Tổng cục Địa chất, Tổng cục Hóa chất ở miền Bắc, Tổng cục Dầu hỏa và Khoáng sản ở miền Nam. Tổng cục Dầu khí Việt Nam là tổ chức chịu trách nhiệm trước Nhà nước về toàn bộ các khâu thăm dò, khai thác, chế biến dầu khí… Tổng cục Dầu khí gồm: Công ty Dầu khí miền Bắc, Công ty Dầu khí miền Nam, Viện Dầu khí Việt Nam, các công ty dịch vụ và Trường Đào tạo cán bộ, công nhân.

Thực hiện nghị quyết trên, ngày 11/8/1975, Thủ tướng Chính phủ đã có Công văn số 2906-VP3 do Phó thủ tướng Đỗ Mười ký gửi Trung ương cục miền Nam, Ủy ban Thống nhất của Chính phủ, Bộ Tài chính về việc cử cán bộ Dầu khí vào miền Nam để chuẩn bị thành lập Công ty Dầu khí Việt Nam gồm có:

1. Đồng chí Nguyễn Văn Biên, Phó chủ nhiệm Ủy ban Khoa học Nhà nước hiện được giao trách nhiệm chỉ đạo công tác chuẩn bị thành lập Tổng cục Dầu khí Việt Nam.

2. Đồng chí Lê Văn Cự, Chánh địa chất thuộc Tổng cục Địa chất được giao nhiệm vụ phụ trách chuẩn bị thành lập Công ty Dầu khí Nam Việt Nam.

3. Đồng chí Trương Thiên, Phó tiến sĩ được giao nhiệm vụ giúp các đồng chí trên chuẩn bị thành lập Công ty Dầu khí Nam Việt Nam và một số cán bộ khác.

Sau khi có quyết định trên, anh Biên, anh Cự và tôi chuẩn bị vào ngay miền Nam để triển khai. Tôi được phân công chuẩn bị về tài chính cho công tác này, tôi đã gặp Bộ trưởng Tài chính Đào Thiện Thi và anh đã có công văn cho Tổng nha Tài chính miền Nam (Công văn 309-TC-CNXH ngày 18/8/1975) giải quyết các yêu cầu về tài chính cho nhiệm vụ này.

Ngày 19/8/1975, chiếc máy bay Yak-40 đưa 3 chúng tôi đến sân bay Tân Sơn Nhất. Ra đón chúng tôi có anh Đào Duy Chữ và đưa chúng tôi về ngay Tổng cục Dầu hỏa và Khoáng sản.

Cùng tham dự buổi họp có các anh đã đi vào trước như Nguyễn Ngọc Sớm, Hồ Đắc Hoài, Ngô Thường San… hiện đang nghiên cứu các tài liệu thu được, chuẩn bị báo cáo về tình hình và triển vọng dầu khí ở miền Nam. Anh Sớm và anh Hoài là cán bộ của Tổng cục Địa chất, anh San là cán bộ của Ủy ban Khoa học Kỹ thuật Nhà nước. Cuối năm 1975, tôi gặp anh Nguyễn Văn Hiệu, lúc bấy giờ là Phó chủ nhiệm Ủy ban Khoa học Kinh tế Nhà nước ở “Cục Nguyên tử lực” tại TP Hồ Chí Minh để xin anh San về ngành Dầu khí.

Sau đó anh Biên, anh Cự và tôi xin gặp anh Sáu Dân (Võ Văn Kiệt) lúc bấy giờ là Bí thư Thành ủy Sài Gòn tại nhà anh trên đường Phan Thanh Giản (nay là Xô Viết Nghệ Tĩnh). Mặc dù hết sức bận rộn công việc sau những ngày mới giải phóng, anh đã thân mật tiếp chúng tôi. Sau khi anh Biên báo cáo công việc chuẩn bị thành lập Tổng cục Dầu khí Việt Nam, Công ty Dầu khí Nam Việt Nam, đồng thời giới thiệu anh Cự và tôi đang triển khai công tác chuẩn bị này, anh rất hoan nghênh, bày tỏ mong muốn sớm thành lập Công ty Dầu khí Nam Việt Nam để đi vào hoạt động. Anh nhắc nhở, nếu có khó khăn ban đầu, thành phố và các ban, ngành sẽ giúp đỡ. Lần đầu tiên gặp anh Sáu Dân, con người giản dị, rắn chắc, nhanh nhẹn, rất nhiệt tình, hăng hái đã khích lệ chúng tôi.

Ngày hôm sau anh Biên cùng chúng tôi đến làm việc với anh Thái (Trần Dương) là Phó ban Kinh tế Miền. Sau khi báo cáo việc triển khai quyết định của Chính phủ và nêu yêu cầu cụ thể về trụ sở với Ban Kinh tế Miền, anh Thái đã đồng ý giao ngay cho chúng tôi 2 cơ sở là Ngân hàng Mahatan ở 27-28 Bến Bạch Đằng và Kỹ thương Ngân hàng (đang xây dở dang) ở số 8 Nguyễn Huệ.

Đầu tháng 9/1975 anh Biên ra Bắc, sau khi có Nghị định 170-CP của Chính phủ ngày 3/9/1975 về việc thành lập Tổng cục Dầu khí Việt Nam để chuẩn bị tiếp thu và thành lập Tổng cục, anh Cự cũng đã quyết định làm Tổng cục phó, còn lại tôi, chị Hồ Anh Nga và một vài cán bộ mới bổ sung (anh Trương Minh Châu, anh Kha…) đã tiếp quản Ngân hàng Mahatan nhận bàn giao và thành lập trụ sở đầu tiên của Công ty Dầu khí Nam Việt Nam.

Trong lúc đó, Trung ương cục miền Nam đã có Quyết định số 12-QĐ75 ngày 12/9/1975, do anh Mười Cúc ký về việc giải thể Tổng cục Dầu hỏa và Khoáng sản. Toàn bộ tài liệu, cơ sở vật chất bàn giao cho Tổng cục Dầu khí và Tổng cục Địa chất. Đại diện cho Tổng cục Dầu hỏa và Khoáng sản đứng ra bàn giao phần địa chất cho Liên đoàn Địa chất 6, phần dầu khí do chúng tôi tiếp nhận, đảm bảo cho 2 cơ quan mới nhận này làm việc được tốt, như tinh thần quyết định Trung ương cục đã lưu ý. Chúng tôi thỏa thuận giao trụ sở Tổng cục Dầu hỏa và Khoáng sản số 2 Nguyễn Bỉnh Khiêm cho Liên đoàn Địa chất 6, còn chúng tôi chuyển về 27-28 Bến Bạch Đằng.

Kỹ thương Ngân hàng số 8 Nguyễn Huệ là ngôi nhà 13 tầng, thiết kế và xây dựng khá đẹp, hiện đại, nhưng đang trong giai đoạn hoàn thiện thì Sài Gòn được giải phóng. Lúc tiếp quản thì tầng ngầm bị ngập nước, ngập máy điện, chúng tôi phải thuê thợ bơm nước và sửa chữa máy phát điện. Tầng trệt có một đơn vị quân đội tiếp quản vẫn còn chăn nuôi lợn, tôi đã nhờ họ giúp đỡ, canh giữ luôn ngôi nhà này. Tôi đã tìm gặp được kiến trúc sư thiết kế ngôi nhà này và đề nghị anh thiết kế, cải tạo lại theo yêu cầu để làm văn phòng cho một công ty dầu khí hiện đại, có cả một phòng họp ở tầng thứ 13 có thể tổ chức các cuộc hội thảo quốc tế. Trong lúc đang chuẩn bị cải tạo thì một đơn vị của Bộ Thương nghiệp vào chiếm ở. Họ trình giấy có con dấu mộc của Chủ tịch Ủy ban Quân quản (UBQQ), mặc dù trước đó họ cũng biết nhà này đã giao cho Công ty Dầu khí Nam Việt Nam và đang chuẩn bị cải tạo, hoàn thiện. Ngay chiều hôm ấy tôi gặp đơn vị thương nghiệp trên và yêu cầu xuất trình giấy tờ, nhưng họ không xuất trình mà còn có ý đe dọa. Tôi và chị Nga đến UBQQ thành phố đề nghị các đồng chí giúp giải quyết. Chúng tôi đã trình giấy bàn giao và quyết định của UBQQ do đồng chí Mai Chí Thọ, Phó chủ tịch UBQQ ký.

Hôm sau, UBQQ triệu tập một cuộc họp giải quyết nhà số 8 Nguyễn Huệ. Phía Dầu khí có tôi và chị Nga đến, còn phía đơn vị thương nghiệp không đến. Chờ mãi không thấy, đồng chí Hà Phú Thuận, Chánh văn phòng UBQQ quyết định tầng trệt tạm thời để họ ở, từ lầu 1 trở lên do Công ty Dầu khí quản lý. Đồng chí cũng lưu ý đấy là quyết định tạm thời, sau sẽ quyết định chính thức, lưu ý hai bên không được xô xát. UBQQ cũng nhờ tôi chuyển quyết định tạm trên cho đơn vị thương nghiệp và yêu cầu họ đến để giải trình. Thế nhưng họ vẫn không nghe, ngăn cản không cho anh em bảo vệ dầu khí lên để bảo vệ từ lầu 1 trở lên như trong quyết định. Suýt nữa xảy ra xô xát, nhưng sau khi trao đổi kỹ, họ đồng ý để anh em bảo vệ lên. Cuối cùng, do sự nhầm lẫn nhà số 8 Nguyễn Huệ vì cấp cho 2 đơn vị khác nhau, do 2 đồng chí khác nhau ký, nên Ban Kinh tế Miền quyết định thu hồi lại nhà này và cấp cho dầu khí trụ sở tại Sứ quán Mỹ ở số 7 Mạc Đĩnh Chi.

Ở Hà Nội đã hình thành bộ máy cơ quan Tổng cục Dầu khí đóng tại 48-50 Nguyễn Thái Học. Tổng cục Địa chất đã bàn giao các đơn vị dầu khí như Liên đoàn 36, Đoàn Địa vật lý 36F, Đoàn Nghiên cứu thí nghiệm 36B và một số cán bộ theo dõi khí ở Tổng cục Hóa chất cho Tổng cục Dầu khí.

Thủ tướng Chính phủ Phạm Văn Đồng cùng ông Nguyễn Văn Biên Tổng cục trưởng Tổng cục Dầu khí thăm giếng khoan 61 ngày 16/3/1976.

Ban Lãnh đạo Tổng cục Dầu khí có anh Biên – Tổng cục trưởng, anh Cự – Tổng cục phó và các vụ mới: Vụ Tổ chức cán bộ do anh Trần Ngôn Hoạt làm Vụ trưởng, Vụ Kế hoạch do anh Phan Minh Bích phụ trách, Văn phòng do anh Lê Quốc Tuân và Nguyễn Văn Liên, Vụ Hành chính quản trị do anh Tuân kiêm nhiệm, Vụ Tài chính Kế toán chưa có Vụ trưởng, Cục Xây dựng cơ bản do anh Dương Quang Thành phụ trách. Tổng cục Dầu khí thành lập Ban Đại diện ở miền Nam gồm có anh Biên – Trưởng đại diện, anh Cự – Phó trưởng đại diện và tôi – kiêm trợ lý đại diện phụ trách công tác văn phòng phía Nam. Công ty Dầu khí Việt Nam được thành lập, anh Cự – kiêm Gián đốc, anh Nguyễn Ngọc Sớm và tôi – Phó giám đốc, chị Nga – Chánh văn phòng, anh San – Trưởng phòng Kỹ thuật, anh Đoàn Thành – Trưởng phòng Kế hoạch vật tư, anh Khiết – Trưởng phòng Tài vụ… Trực thuộc Công ty Dầu khí Nam Việt Nam có các đơn vị: Đoàn Dầu khí 1 do anh Lê Quang Trung – Đoàn trưởng đóng ở Vũng Tàu, Đoàn Dầu khí 2 do anh Trương Minh – Đoàn trưởng đóng ở Cần Thơ, Trường Công nhân kỹ thuật Bà Rịa do anh Vinh – Hiệu trưởng.

Trở lại việc tiếp quản nhà Sứ quán Mỹ. Nhà cửa rất đồ sộ, nhưng đã qua 3 chủ: đơn vị quân đội, công an, Ban Kinh tế Miền, nên chỉ còn lại cái vỏ bên ngoài, bên trong lấy đi hết bàn ghế, máy móc văn phòng… kể cả đèn, cầu thang bị hư hỏng không dùng được. Trước tình hình ấy tôi cho anh em thiết kế và sửa chữa lại, đóng mới toàn bộ bàn ghế, kể cả phòng cho Bộ trưởng phụ trách Dầu khí (lúc bấy giờ đã cuối năm 1976, anh Đinh Đức Thiện về phụ trách Dầu khí). Công lao sửa chữa, đóng mới… nhờ có anh Năm Thu giúp đỡ chi phí khoảng 400.000 nghìn đồng. Nhà Sứ quán Mỹ phục hồi lại gần như mới. Lúc bấy giờ trụ sở chuyển từ 27-28 Bến Bạch Đằng về số 7 Mạc Đĩnh Chi. Chúng tôi đã khôi phục được trạm điện có 3 tổ máy dự phòng. Năm 1977 là năm triển khai công tác địa vật lý trên thềm lục địa và trên đất liền ở Đồng bằng sông Cửu Long.

Để đảm bảo hậu cần cho công tác địa vật lý trên biển, cần có căn cứ hậu cần vì vậy chúng tôi bắt đầu cho xây dựng cầu cảng và Xí nghiệp Dịch vụ Dầu khí làm cầu cảng để tàu 10.000 tấn ra vào được là yêu cầu rất gấp. Chiếc cầu cảng hiện nay do Xí nghiệp Liên doanh (XNLD) Vietsovpetro đang sử dụng đã được xây dựng chỉ trong 100 ngày, anh Nguyễn Ngọc Sớm lúc này được bổ nhiệm làm Giám đốc Công ty Dầu khí Nam Việt Nam và trực tiếp làm Trưởng ban Quản lý công trình, còn đơn vị thi công là Liên hiệp Giao thông 6 do anh Lâm Chi làm Giám đốc thực hiện. Xây dựng một chiếc cầu cảng dài 150m cho tàu 1 vạn tấn cập bến mà chỉ làm trong vòng 100 ngày là một thành tích đáng tự hào.

Ở Đồng bằng sông Cửu Long ta ký hợp đồng với Công ty CGG Pháp, với tàu Gémeau hoạt động trên khắp sông rạch miền Nam. Việc đảm bảo hậu cần và an toàn là một nhiệm vụ rất nặng nề. Đoàn Dầu khí 2 chịu trách nhiệm làm địa chấn trên đất liền, sau khi khảo sát xong địa chấn trên các kênh rạch. Nhiều khó khăn mới phát sinh như khoan, kéo dây, nổ mìn trên đồng ruộng, giao thông rất kém, làm trên biển nông gặp phải sú vẹt và kiến đốt, nhưng anh em với tinh thần về sự nghiệp dầu khí cho đất nước đã chiến thắng tất cả trở ngại. Thời gian đầu Đoàn Dầu khí 2 do anh Trương Minh phụ trách, sau anh Minh là anh Long, rồi anh Đỗ Chí Hiếu tiếp tục triển khai.

Ở Hà Nội, Tổng cục Dầu khí đã tiến hành đàm phán và ký hợp đồng với Công ty Deminex (Tây Đức), Bow Valay (Canada) và Agip (Italia). Vấn đề mới được đặt ra là mọi hoạt động dầu khí xuất phát từ Vũng Tàu, nên Công ty Dầu khí Việt Nam phải chuyển từ TP Hồ Chí Minh xuống Vũng Tàu.

Chủ trương lúc bấy giờ là vừa di chuyển, vừa sửa chữa trụ sở, nhà cửa và phải tiến hành công tác thăm dò. Trụ sở của Công ty Dầu khí Việt Nam là nhà số 2, 4, 9 đường Hoàng Diệu, Vũng Tàu, còn cán bộ, công nhân viên (CBCNV) ở 2 khách sạn vừa được bàn giao với mọi thứ thiếu thốn: nước, điện, có phòng sập lở, nhưng trong thời gian ngắn đã ổn định được tổ chức đời sống cho CBCNV. Trong thời gian đó tình hình lương thực, thực phẩm cực kỳ khó khăn: ăn bo bo, ngô thay gạo.

Công ty Dầu khí Việt Nam tiếp tục triển khai các nhiệm vụ của mình.

Về kỹ thuật trên cơ sở tài liệu tiếp quản, cộng thêm tài liệu mới thu thập được từ công tác địa chấn, anh em đã đánh giá lại tiềm năng dầu khí ở phía Nam thực hiện chức năng giám sát các công ty nước ngoài, tham gia ý kiến xác định vị trí, chiều sâu các giếng khoan biển, chuẩn bị vị trí các giếng khoan trên đất liền và lập đề án tự làm ở lô 4 (nay là lô 16) mỏ Bạch Hổ đã được Mobil phát hiện để trình Tổng cục.

Về đối ngoại: Công ty Dầu khí Nam Việt Nam tiếp tục đàm phán với các công ty dầu khí nước ngoài về hợp đồng khoan và dịch vụ, tham gia vào việc quản lý người nước ngoài ở Vũng Tàu.

Về dịch vụ: Quản lý cảng dầu khí, cung cấp các dịch vụ ở cảng như: điện, nước, xăng dầu và các nhu cầu vật tư, thực phẩm trên các tàu dịch vụ và ở các giàn khoan. Thành lập Xí nghiệp Dịch vụ do anh Minh, sau do anh Châu phụ trách.

Liên đoàn phó Liên đoàn 36 Đặng Của (phải) và Nguyễn Trọng Tưởng (trái).

Cuối năm 1978 đầu 1979 bắt đầu khoan giếng đầu tiên của Công ty Agip, sau đến Bow Valey và Deminex (kết quả đã có báo cáo riêng). Sau này Công ty Dầu khí 2 tiếp tục quản lý các nhà thầu hoạt động ở thềm lục địa và Đoàn Đồng bằng sông Cửu Long để tìm kiếm dầu khí trên đất liền.

Công ty Dầu khí 2: anh Nguyễn Ngọc Sớm làm Giám đốc, bổ sung thêm anh Hồ Tế, anh Thanh, anh Tuấn làm Phó giám đốc. Riêng trên đất liền cũng bắt đầu khoan giếng Trà Cối với máy khoan F2 sâu 3.200m của Rumani, đội khoan do anh Đặng Của, Phó giám đốc Công ty Dầu khí 1 ở Thái Bình phụ trách, rồi giếng thứ 2 ở Phụng Hiệp. Cả 2 giếng không đạt được kết quả như mong muốn. Có câu chuyện vui, là khi khoan giếng Trà Cối gặp áp suất mọi người đều mừng, sợ dầu phun phải chở Barit bằng máy bay vào để kịp dập giếng. Kết quả trong giai đoạn 1978-1979 các công ty nước ngoài đã khoan 12 giếng với độ sâu 3.000 và trên 3.000m.

Năm 1980 bắt đầu chuẩn bị liên doanh với Liên Xô và năm 1981 thành lập XNLD Dầu khí Việt Xô. Một số lớn cán bộ của Công ty Dầu khí 2 chuyển sang làm trong liên doanh, anh Nguyễn Ngọc Sớm được đề cử làm Phó giám đốc XNLD Dầu khí Việt Xô và Công ty 2 giải thể. Trên đây khái quát về giai đoạn đầu chuẩn bị thành lập ngành Dầu khí và thành lập Công ty Dầu khí Nam Việt Nam. Nhân dịp kỷ niệm 50 năm Ngày thành lập ngành, tôi ghi lại những ký ức khoảng thời gian đó…

T.T

DMCA.com Protection Status