Mỏ khí Hải Thạch - Mộc Tinh

Niềm kiêu hãnh Việt Nam

07:00 | 27/05/2019

|
Tháng 9-2013 Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) đã đưa dự án dầu khí trọng điểm quốc gia - cụm mỏ Hải Thạch - Mộc Tinh (còn gọi là Biển Đông 01) vào khai thác. Đây là cụm mỏ ngoài khơi xa nhất, công trình trên biển lớn nhất do Việt Nam trực tiếp thực hiện, cách Vũng Tàu 320km về phía Đông Nam.

Quá trình tìm kiếm, thăm dò

Hai mỏ Hải Thạch và Mộc Tinh nằm trong 2 lô dầu khí 05-2 và 05-3 thuộc bể Nam Côn Sơn trên thềm lục địa Việt Nam. Bể Nam Côn Sơn là khu vực có giếng khoan đầu tiên ngoài khơi Việt Nam từ năm 1974. Hoạt động tìm kiếm, thăm dò dầu khí tại bể Nam Côn Sơn bị gián đoạn đến những năm đầu thập niên 90 của thế kỷ trước, khi các công ty lớn trên thế giới như BP, Statoil gia nhập. Năm 1992, BP phát hiện mỏ khí Lan Đỏ, năm 1993 phát hiện mỏ khí Lan Tây nằm ở Lô 06-1 (cạnh Lô 05-2 và 05-3). Cùng năm đó, BP tiến hành khoan thăm dò dầu khí ở Lô 05-3 và đã phát hiện mỏ khí Mộc Tinh, năm 1995 tiếp tục phát hiện mỏ khí Hải Thạch ở Lô 05-2.

niem kieu hanh viet nam
Cụm giàn PQP-HT1

Một đặc điểm của các mỏ thuộc khu vực này là hầu hết những giếng khoan thăm dò đầu tiên đều gặp sự cố do điều kiện địa chất phức tạp, đặc biệt là vấn đề nhiệt độ cao, áp suất cao trong quá trình khoan. Cả 2 giếng thăm dò tại Mộc Tinh đều phát hiện khí nhưng đều phải hủy giếng do gặp phải các khó khăn trong quá trình vận hành.

Với trữ lượng lớn và điều kiện hoạt động dễ hơn, mỏ Lan Tây và Lan Đỏ đã được BP triển khai xây dựng trước. Năm 2003, dòng khí đầu tiên từ mỏ Lan Tây đưa vào bờ qua đường ống Nam Côn Sơn, thúc đẩy nhanh hơn quá trình phát triển của công nghiệp khí. Kể từ đó, thị trường khí có sự bứt phá mạnh mẽ, hình thành các khu vực tiêu thụ lớn, từ nhà máy điện cho tới các khu công nghiệp.

Đến nay, tại các công trình khai thác ngoài biển, Việt Nam có hơn 2.000km đường ống, trong đó có hơn 1.000km đường ống dẫn khí. Dài nhất vẫn đang là hệ thống đường ống khí Nam Côn Sơn từ mỏ Lan Tây với 362km trên biển.

Thành công của BP tại 2 mỏ Lan Tây và Lan Đỏ thúc đẩy hoạt động tìm kiếm thăm dò ở bể Nam Côn Sơn. Tuy nhiên với vai trò nhà điều hành, BP đã chọn 2 mỏ thuận lợi nhất để phát triển và để dành lại 2 mỏ Hải Thạch - Mộc Tinh. Đến nay, hai mỏ khí Lan Tây - Lan Đỏ vẫn đang là nguồn cung khí chủ lực của Việt Nam.

Trong những năm kinh tế Việt Nam bùng nổ và thị trường khí bắt đầu mở rộng thì BP đã có kế hoạch phát triển mỏ Hải Thạch - Mộc Tinh để đưa vào khai thác. Tuy nhiên, vì nhiều lý do khác nhau, đầu năm 2009, các đối tác nước ngoài đã quyết định từ bỏ 2 mỏ khí Hải Thạch - Mộc Tinh khi tính toán, cân nhắc quyền lợi.

Sự ra đời của BIENDONG POC

Việc rút lui của BP và các đối tác khỏi 2 lô 05-2 và 05-3 đã đưa PVN vào tình thế khó khăn. Khối tài sản hàng tỉ USD có nguy cơ tiếp tục nằm trong lòng đất như đã từng “im ắng” từ suốt 15 năm trước. Câu hỏi đầu tiên là: Làm thế nào để đưa khối tài nguyên này lên mặt đất, phục vụ nền kinh tế quốc dân cũng như khẳng định chủ quyền quốc gia trên biển? Câu trả lời không đơn giản. Nếu tìm đối tác khác để tiếp tục phát triển mỏ này sẽ phải là đối tác có quy mô như thế nào, có đủ tầm vóc không (vì BP là top 5 công ty hàng đầu thế giới về dầu khí), mất bao lâu để tìm hiểu, ký hợp đồng và khởi động lại các hoạt động?

Một giải pháp mới được đặt ra: PVN sẽ tự thực hiện công việc này.

Cần phải khẳng định rằng, bước đi táo bạo đó là sự dũng cảm và quyết tâm cao độ của lãnh đạo PVN. Từ trước đến nay Việt Nam chưa từng tự triển khai dự án nào ở độ sâu 135m nước. Đến thời điểm đó, PVN mới chỉ có 3 mỏ khí hoàn toàn được thực hiện với công nghệ và kỹ thuật nước ngoài. Không chỉ vậy, hai mỏ khí Hải Thạch - Mộc Tinh khó phát triển, đây là nơi có điều kiện địa chất phức tạp vào loại hiếm có trên thế giới, khí đốt ở giếng có nhiệt độ lên đến 1700C và áp suất hơn 400 atmosphere, vì thế BP đã để lại 2 mỏ này và ưu tiên khai thác 2 mỏ Lan Tây - Lan Đỏ, mặc dù cả 4 mỏ được phát hiện gần như cùng thời điểm.

Tháng 1-2009, Công ty Điều hành Dầu khí Biển Đông (BIENDONG POC) ra đời với nhiệm vụ tiếp quản “di sản” của BP để lại nhằm phát triển mỏ Hải Thạch - Mộc Tinh. Một giai đoạn mới của lĩnh vực khai thác khí bắt đầu.

Dự án của những kỷ lục

Cho đến tận bây giờ, không phải ai cũng hiểu được quy mô của Dự án Biển Đông 01, đặc biệt trong những ngày đầu triển khai.

Tổng khối lượng chế tạo của Biển Đông 01 khoảng hơn 40.000 tấn. Nếu bao gồm cả thi công cọc thì tổng khối lượng chế tạo khoảng 60.000 tấn, bằng 20% tổng khối lượng chế tạo suốt trong 25 năm trước của toàn ngành Dầu khí hoặc gấp 2 lần tổng khối lượng chế tạo của riêng Công ty Dịch vụ Cơ khí Hàng hải PTSC (PTSC M&C) suốt 10 năm từ khi thành lập.

Đây là công trình giàn cố định ở độ sâu nhất Việt Nam hiện nay: 135m. Nếu tính cả chiều cao của khối thượng tầng (topside) phía trên mặt biển thì toàn bộ 3 giàn khai thác của Biển Đông 01 đều có chiều cao trên 150m. Trong vòng 4 năm qua, ngành Dầu khí đã chế tạo hơn 20 giàn khai thác, trong đó có 3 công trình của Biển Đông 01, đều là những giàn có chiều cao nhất, thậm chí thuộc nhóm các công trình cao nhất Việt Nam. Riêng giàn xử lý trung tâm (PQP) có tổng chiều cao 250m.

Các kỷ lục về chiều cao, khối lượng chế tạo chỉ là một trong những điều đáng chú ý ở Biển Đông 01 chứ chưa phải là tất cả.

Dự án Biển Đông 01 gồm nhiều hạng mục: Chân đế và giàn công nghệ trung tâm Hải Thạch; chân đế và giàn Mộc Tinh 1; cầu dẫn với khoảng 70km đường ống, 20km cáp ngầm. Riêng chân đế giàn công nghệ trung tâm Hải Thạch nặng trên 16.000 tấn, khối thượng tầng giàn công nghệ trung tâm nặng trên 12.000 tấn. Để hoàn thành giàn công nghệ trung tâm Hải Thạch, PTSC M&C đã phát huy nhiều sáng kiến, cải tiến kỹ thuật đã được tích lũy hiệu quả và dùng rất nhiều bản vẽ thiết kế chi tiết, phức tạp. Trong thời gian thi công cao điểm, Ban Dự án đã phải huy động trên 3.000 cán bộ, kỹ sư, công nhân tay nghề cao, làm việc 24/24h để bảo đảm tiến độ, an toàn, chất lượng và hiệu quả thi công.

Đây là công trình xây dựng trên biển được thiết kế hiện đại nhất, quy mô nhất ở Đông Nam Á. Đây cũng là công trình được đánh giá cao nhất về hệ số an toàn với 17 triệu giờ công lao động không xảy ra bất kỳ sự cố nào. Do có phương án thi công hợp lý, phát huy tối đa sức mạnh nội lực của các doanh nghiệp trong PVN, công trình đã rút ngắn được thời gian so với dự tính của các công ty nước ngoài là 2 năm, tiết kiệm được 74 triệu USD.

Kết quả của Biển Đông 01 là câu trả lời đầy đủ về tiến độ dự án: Bắt đầu thiết kế FEED tháng 9-2009; cho dòng khí đầu tiên (First gas) đầu tháng 8-2013 và dòng khí thương mại (Commercial gas) tháng 9-2013. Điều đó cho thấy, người Việt Nam có thể làm được những điều mà các công ty lớn trên thế giới đang thực hiện.

Sau khi tiếp quản dự án, PVN đã quyết định đầu tư toàn bộ và tất cả mọi phần việc đều do cán bộ, kỹ sư của PVN thiết kế, thi công và điều hành. Các doanh nghiệp thành viên của PVN như Liên doanh Việt - Nga Vietsovpetro; Tổng công ty CP Khoan và Dịch vụ khoan Dầu khí (PV Drilling); Tổng công ty CP Dịch vụ Kỹ thuật Dầu khí Việt Nam (PTSC)… đã hoàn thành xuất sắc những phần việc được giao, đặc biệt là việc chế tạo giàn tiếp trợ nửa nổi nửa chìm PV DRILLING V, góp phần quan trọng vào thành công của dự án.

Biển Đông 01 là nơi thử thách lòng yêu nước, là nơi thể hiện bản lĩnh và trí tuệ của những người làm dầu khí Việt Nam. Những người dầu khí hoàn toàn có thể tự hào gọi Biển Đông 01 là “niềm kiêu hãnh Việt Nam”.

Ngày 24-7-2013, dòng khí từ giàn Mộc Tinh đã bắt đầu chảy về Hải Thạch và ngày 7-8-2013, tại giàn Hải Thạch đã có dòng khí đầu tiên (First gas), cho ra những sản phẩm dầu khí của Dự án Biển Đông 01, ghi dấu son mới trong lịch sử ngành Dầu khí.

Nguyễn Tiến Dũng