Cần sớm có chính sách giá khí hợp lý

Bài 2: Thách thức và giải pháp

06:41 | 16/09/2018

|
Công nghiệp hóa - chế biến dầu khí tại Việt Nam vẫn còn non trẻ và còn nhiều tiềm năng phát triển. Để Tập đoàn Dầu khí Việt Nam phát triển mạnh lĩnh vực này cần sự vào cuộc quyết liệt và sự hỗ trợ của cả hệ thống chính trị.   

Khó khăn thách thức

Mặc dù đã đạt được những thành tựu bước đầu và còn nhiều tiềm năng để phát triển (về thị trường, vị trí địa điểm, nguồn nguyên liệu...), tuy nhiên trong bối cảnh tình hình trong nước, thế giới có nhiều biến động về tăng trưởng kinh tế, môi trường đầu tư, hội nhập quốc tế, xuất hiện các nguồn năng lượng mới (khí đá phiến), giá dầu thô giảm mạnh… dẫn đến sự phát triển lĩnh vực chế biến dầu khí của PVN gặp không ít khó khăn thách thức.

bai 2 thach thuc va giai phap
Nhà máy Đạm Phú Mỹ.

Trước tiên là sức ép cạnh tranh với các nhà máy lọc hóa dầu khu vực châu Á và quốc tế đã hết khấu hao, có giá thành sản xuất thấp, trong khi chính sách bảo hộ của Nhà nước đối với sản phẩm xăng dầu sản xuất trong nước dần được gỡ bỏ theo các cam kết hội nhập của Việt Nam với quốc tế (WTO, AFTA, TPP, ASEAN…).

Tiếp đến, các sản phẩm xăng dầu sản xuất nội địa có nguy cơ không cạnh tranh được với sản phẩm nhập khẩu (như trường hợp NMLD Dung Quất thời gian vừa qua khi Chính phủ cắt giảm thuế nhập khẩu xăng dầu theo lộ trình hội nhập). Đối với Nhà máy Lọc hóa dầu Nghi Sơn, PVN sẽ phải bù tiền cho nhà đầu tư nước ngoài theo cam kết bảo lãnh (GGU) của Chính phủ do việc cắt giảm thuế.

Mặt khác, công nghệ chế biến của các nhà máy lọc hóa dầu của Tập đoàn chủ yếu để sản xuất nhiên liệu, mức độ tích hợp lọc dầu - hóa dầu rất thấp so với thế giới (tỉ lệ sản phẩm hóa dầu - lọc dầu của NMLD Dung Quất 2,4%, Nghi Sơn là 13%). Trong khi thông thường các sản phẩm hóa dầu tạo ra giá trị gia tăng cao hơn so với lọc dầu và việc tích hợp tối đa lọc hóa dầu là xu hướng hiện nay trên thế giới do có lợi thế chia sẻ cơ sở hạ tầng, phụ trợ, dịch vụ dùng chung, nâng cao hiệu quả chế biến, giảm chi phí giá thành sản phẩm, cơ cấu sản phẩm đa dạng, linh hoạt nên hạn chế ảnh hưởng của biến động thị trường.

Về Nhà máy xơ sợi polyester Đình Vũ lại đang ở vào giai đoạn chưa tích hợp vào chuỗi giá trị sản xuất của dệt may mà phải nhập khẩu nguyên liệu nên hiệu quả sản xuất kinh doanh thấp trong khi sản phẩm đầu ra không có hệ thống tiêu thụ nên bị cạnh tranh, ép giá.

Trong khi đó, việc đưa vào khai thác các nguồn dầu khí đá phiến (Shale Oil, Shale Gas) có giá thành thấp làm thay đổi lớn giá nguyên liệu hóa dầu tại Mỹ, Trung Đông sẽ là yếu tố tác động mạnh đến thị trường Việt Nam và khu vực Đông Nam Á; sản phẩm, nguyên liệu về hóa dầu trong nước sản xuất chưa đa dạng nên khi thị trường biến đổi mạnh ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế của dự án. Nhiều dự án đang gặp rất nhiều khó khăn như: Ethanol, xơ sợi PVTEX Đình Vũ.

Giải pháp cấp bách

Theo nghiên cứu của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam, có 4 giải pháp trọng tâm để nâng cao năng lực sản xuất cũng như năng lực cạnh tranh lĩnh vực chế biến dầu khí.

bai 2 thach thuc va giai phap
Nhà máy Xơ sợi Đình Vũ.

Trước hết là giải pháp về nguồn nhân lực. PVN đang tập trung xây dựng chế độ đãi ngộ tốt để thu hút lực lượng chuyên gia kỹ thuật cao. Áp dụng chế độ lương theo mặt bằng các nhà máy lọc hóa dầu trong khu vực. Tuyển chọn và đào tạo đội ngũ chuyên gia vận hành, bảo trì, bảo dưỡng, thiết kế, quản lý dự án theo tiêu chuẩn của các nhà máy lọc hóa dầu trong khu vực. Sử dụng các nhà máy hiện có để tổ chức đào tạo tại chỗ, đào tạo thông qua công việc cho nhân sự của các dự án lọc hóa dầu mới trong nước. Xây dựng hệ thống quản trị nhân sự chuẩn mực quốc tế: ứng dụng công nghệ thông tin, xây dựng bản đồ năng lực/tiêu chuẩn chức danh, hệ thống đánh giá.

Tiếp đến, để quản lý tốt hệ thống các nhà máy cần áp dụng hệ thống quản trị chung toàn Tập đoàn (Enterprise Resource Planning - ERP). Xây dựng, hoàn thiện danh mục tiêu chuẩn kỹ thuật áp dụng chung cho các dự án chế biến dầu khí và quy trình thực hiện công tác chuyên môn của các nhà máy trong toàn Tập đoàn để định hướng lựa chọn công nghệ, thiết bị để tiết kiệm chi phí đầu tư, vận hành Hoàn thiện chuẩn hóa và điện tử hóa hệ thống quy trình nghiệp vụ quản lý và điều hành sản xuất, kinh doanh sử dụng các giải pháp công nghệ thông tin công nghiệp tương đương tiêu chuẩn quản trị của một số nhà máy lọc hóa dầu trong khu vực.

Xây dựng và hoàn thiện chuẩn hóa dữ liệu thiết bị, vật tư phụ tùng thay thế tại các nhà máy chế biến dầu khí. Chủ động trong công tác bảo dưỡng, sửa chữa để từng bước hình thành một đơn vị bảo dưỡng tổng thể. Quản lý và khai thác, sử dụng hiệu quả các nguồn lực về con người, vật tư thiết bị dự phòng và các trang thiết bị tại các đơn vị trong ngành, nhằm giảm chi phí bảo dưỡng sửa chữa, nâng cao hiệu quả sản xuất tại các nhà máy chế biến dầu khí. Giám sát chặt chẽ về đầu tư, kiểm soát sâu hơn với mức độ tham gia trực tiếp cao hơn đối với các dự án nhóm A, B của các đơn vị thành viên.

Về vấn đề chuỗi giá trị ngành chế biến dầu khí gồm “thị trường - nguyên liệu - sản phẩm”, PVN cũng đang thiết lập đối tác chiến lược, thỏa thuận khung dài hạn để đảm bảo nguồn dầu thô và nguyên liệu hóa dầu với các đối tác (Tập đoàn KPC, Rosneft, Gazprom, Petronas, SCG). Đảm bảo quyền ưu tiên mua các nguồn dầu thô, condensate từ các mỏ khai thác tại Việt Nam.

Để thực hiện giải pháp này, PVN đã nhiều lần kiến nghị Chính phủ, các Bộ, ngành có chính sách giá khí cho từng đối tượng cụ thể phục vụ mục tiêu phát triển chung của PVN. Trong đó, có chính sách giá khí với lộ trình ưu tiên để phát triển hóa dầu ở giai đoạn đầu, sau đó tăng dần theo giá khí thị trường.

Mặt khác cũng cần ưu tiên phát triển công nghiệp hóa dầu từ khí thiên nhiên. Coi đây là một trong những lĩnh vực phát triển quan trọng để đảm bảo sự phát triển bền vững của PVN trong thời gian sắp tới. Trong đó, dành tối thiểu 20% sản lượng khí để phục vụ phát triển hóa dầu.

Đặc biệt là tăng cường công tác tiếp thị truyền thông. Xây dựng, quảng bá và khẳng định giá trị thương hiệu các sản phẩm lọc hóa dầu của PVN. Phát triển hệ thống phân phối sản phẩm lọc hóa dầu tương ứng với năng lực sản xuất, đảm bảo mục tiêu lợi nhuận. Mở rộng phân phối sang các nước lân cận.

Cuối cùng cần đầu tư mạnh vào các lĩnh vực nghiên cứu và phát triển (R&D). Lựa chọn những sản phẩm có tiềm năng để tập trung nghiên cứu. Tập trung vào các chương trình nghiên cứu dài hạn với mục tiêu cho từng giai đoạn rõ ràng. Nghiên cứu tối ưu hóa sản xuất, giảm tiêu hao năng lượng, vật tư, phụ trợ tại các nhà máy đang hoạt động để giảm giá thành sản phẩm, tăng khả năng cạnh tranh.

Cần nhanh chóng mở rộng quy mô công suất các nhà máy lọc dầu ngang tầm khu vực và thế giới. Sử dụng công nghệ hiện đại, chế biến sâu và tối đa hóa tích hợp lọc hóa dầu, tích hợp với việc đầu tư phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ và dịch vụ kỹ thuật liên quan để tạo ra giá trị gia tăng cao, tiêu hao năng lượng thấp, giảm chi phí đầu tư, chi phí sản xuất, bảo vệ môi trường. Đổi mới công nghệ, đa dạng hóa sản phẩm, kéo dài chuỗi giá trị gia tăng, không chỉ sản xuất nhiên liệu, các sản phẩm hóa dầu mà còn sản xuất hóa chất, hóa phẩm, phụ.

Lời kết:

Có thể thấy rằng, phát triển lĩnh vực chế biến dầu khí đã góp phần hoàn thiện chuỗi giá trị gia tăng của PVN từ tìm kiếm thăm dò - khai thác - vận chuyển - chế biến và phân phối các sản phẩm dầu khí. PVN đã đầu tư phát triển lĩnh vực chế biến dầu khí: lọc hóa dầu, sản xuất phân đạm, sản xuất polypropylen, xơ sợi tổng hợp.

Các nhà máy chế biến dầu khí của PVN đều là những nhà máy có công nghệ, thiết bị hiện đại được phập khẩu từ các nhà bản quyền công nghệ và các nhà sản xuất chế tạo thiết bị của các nước phát triển trên thế giới. Nghiên cứu khoa học và ứng dụng KHCN trong lĩnh vực chế biến dầu khí đã được PVN quan tâm và đẩy mạnh, góp phần tích cực vào việc vận hành an toàn và hiệu quả các nhà máy chế biến.

Mặc dù vậy cần tiếp tục đầu tư nghiên cứu trong lĩnh vực hoá - chế biến dầu khí để sản xuất các hoá phẩm, tìm ra các giải pháp hoá học tối ưu phục vụ cho khai thác dầu khí và gia tăng hệ số thu hồi (EOR), tối ưu hóa trong vận hành các nhà máy chế biến dầu khí, đa dạng hóa sản phẩm góp phần quan trọng trong việc đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia. Trong đó, cần mạnh dạn hợp tác với các đối tác nước ngoài để nghiên cứu, phát triển các giải pháp công nghệ mới; ứng dụng công nghệ 4.0, phù hợp trong khai thác và chế biến dầu khí, nhằm đảm bảo sử dụng tối ưu nguồn tài nguyên cũng như phát triển bền vững của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam.

TS. Nguyễn Hoàng Yến

bai 2 thach thuc va giai phap Chế biến dầu khí hoàn thành toàn diện các chỉ tiêu kế hoạch 6 tháng đầu năm
bai 2 thach thuc va giai phap Nâng cao năng lực cạnh tranh của các nhà máy lọc hóa dầu
bai 2 thach thuc va giai phap Thách thức và cơ hội đối với lĩnh vực chế biến dầu khí
bai 2 thach thuc va giai phap Cơ hội và thách thức của các dự án lọc hóa dầu Việt Nam
bai 2 thach thuc va giai phap Hội thảo quốc tế về chế biến dầu khí và hóa dầu
bai 2 thach thuc va giai phap Công nghiệp chế biến dầu khí ở Việt Nam