Kỷ niệm 65 năm Ngày truyền thống PETROVIETNAM (27/11/1961-27/11/2026)

Đi tìm dầu khí giữa những năm tháng chiến tranh

07:51 | 01/11/2026

144 lượt xem
tăng
a a
giảm
In bài viết
(PetroTimes) - Trong những năm tháng chiến tranh, khi miền Bắc liên tục hứng chịu bom đạn của không quân Mỹ, những cán bộ địa chất và công nhân khoan vẫn bám trụ trên các công trường tìm kiếm dầu khí. Từ những mũi khoan đầu tiên còn thô sơ đến giếng khoan sâu hàng nghìn mét, hành trình ấy được tạo nên bằng sự bền bỉ, tinh thần vượt khó và khát vọng đặt nền móng cho ngành Dầu khí Việt Nam.

Giữ mũi khoan giữa làn bom đạn

Ngày 27/11/1961, Đoàn Thăm dò Dầu lửa 36 (Đoàn 36) được thành lập, đánh dấu bước đi có tổ chức đầu tiên trong hành trình tìm kiếm, thăm dò dầu khí của Việt Nam. Khi ấy, đội ngũ chuyên môn còn mỏng, thiết bị thiếu thốn, kinh nghiệm thực tiễn chưa nhiều. Trong khi đó, chiến tranh ngày càng khốc liệt, khiến công việc dựng giàn, vận chuyển thiết bị và khảo sát ngoài thực địa luôn đối mặt với nguy hiểm.

Đi tìm dầu khí giữa những năm tháng chiến tranh
Thủ tướng Phạm Văn Đồng thăm Đoàn 36 năm 1975; ông Lê Xuân Tùy đứng thứ hai từ bên trái (Ảnh tư liệu).

Ông Lê Xuân Tùy, nguyên cán bộ Đoàn Địa chất Xuân Thủy 36N, từng trải qua những năm tháng ấy. Trong cuộc trò chuyện với phóng viên Tạp chí Năng lượng Mới - PetroTimes, ông kể lại lần đội khoan đang dựng giàn tại Xuân Thủy, Nam Định thì máy bay Mỹ bất ngờ xuất hiện.

Hôm ấy, thân giàn khoan mới được dựng nghiêng khoảng 45 độ, tời kéo đang căng. Nghe báo động, ông Tùy cùng anh em trong đội tự vệ mang theo súng trường chạy về phía giàn khoan. Trước mắt họ là máy bay Mỹ đang lao tới, trong khi công trình vẫn nằm giữa khoảng đất trống.

Theo hồi ức của ông Tùy, những người thợ cùng hét vang, nhắc nhau giữ chặt tời, không buông vị trí. Máy bay Mỹ thả bom, khói bụi phủ kín khu vực. Loạt bom nổ cách giàn khoan khoảng 50m, đất cát hất tung lên cổ, lên mặt những người thợ. Khi khói bom tan dần, họ nhìn quanh tìm nhau, may mắn không ai bị thương và giàn khoan không bị phá hủy.

Câu chuyện cho thấy hiểm nguy mà những người thợ khoan phải đối mặt khi vừa thực hiện nhiệm vụ chuyên môn, vừa bảo vệ công trình giữa chiến tranh. Họ không trực tiếp chiến đấu ở chiến hào, nhưng vẫn phải bám trụ để duy trì công việc được giao.

Những đợt máy bay địch tiếp tục xuất hiện. Theo ông Tùy, dần dần, anh em quen với những lần báo động, có người còn ví máy bay địch như bầy ruồi vo ve trên trời. Phần lớn công nhân khoan khi ấy còn trẻ, nhiều người chưa có kinh nghiệm trong một nghề hoàn toàn mới. Dù công việc nặng nhọc, thiết bị thiếu thốn, họ vẫn động viên nhau bằng khẩu hiệu “vững tay tời, chắc chân đế”.

Những khó khăn ấy hiện rõ trong các mũi khoan đầu tiên. Ngày 10/7/1962, tại xã Tam Hiệp, huyện Thanh Trì, Hà Nội, tổ khoan do ông Bùi Kiên Quyết làm tổ trưởng triển khai công việc với máy khoan Zíp 150.

Cũng theo hồi ức của ông Tùy, phần lớn thao tác khi ấy dựa vào sức người. Mũi khoan lần lượt đạt độ sâu 15m, 30m rồi 50m. Khi đạt khoảng 55m, máy gặp sự cố và dừng ở độ sâu 57m. Kết quả ban đầu chưa đạt kỳ vọng, nhưng những người thợ vẫn tiếp tục chuẩn bị cho các mũi khoan tiếp theo.

Đi tìm dầu khí giữa những năm tháng chiến tranh
Công nhân, kỹ sư Đoàn 36 lắp đặt mũi khoan để thăm dò địa chất tại Đồng bằng sông Hồng (Ảnh tư liệu).

Trước đó, ngày 25/6/1962, tại Hưng Yên đã diễn ra vụ nổ địa chấn đầu tiên phục vụ thăm dò dầu khí ở Đồng bằng sông Hồng. Các thiết bị địa chấn của Liên Xô ghi nhận những tín hiệu sóng phản xạ, mở đầu cho quá trình nghiên cứu cấu trúc địa chất dưới lòng đất bằng phương pháp địa chấn.

Công việc tìm kiếm dầu khí không chỉ diễn ra ngoài thực địa. Ông Phan Minh Bích, người từng giữ cương vị Đoàn phó Đoàn 36, sau đó là Liên đoàn phó Liên đoàn Địa chất 36, từng kể về việc cán bộ kỹ thuật phải làm việc ngày đêm để xử lý lượng lớn số liệu bằng máy Nisa của Liên Xô.

Năm 1966, do chiến tranh, Đoàn 36 phải sơ tán về Hưng Yên. Đến năm 1969, Liên đoàn Địa chất 36 được thành lập trên cơ sở phát triển Đoàn 36, mở rộng quy mô và phạm vi hoạt động. Lực lượng chuyên môn từng bước được củng cố, tạo cơ sở để triển khai những công trình khoan sâu hơn.

Từ giếng khoan 100 đến dòng khí đầu tiên

Nếu câu chuyện của ông Lê Xuân Tùy khắc họa những gian khó trong buổi đầu tìm kiếm dầu khí, thì giếng khoan GK-100 tại làng Khuốc, xã Phong Châu, huyện Đông Hưng, Thái Bình (cũ), đánh dấu bước tiến về quy mô và kỹ thuật của ngành trong những năm chiến tranh.

Ngày 23/9/1970, những mét khoan đầu tiên được thực hiện tại GK-100. Giếng được thiết kế đạt độ sâu khoảng 3.000m nhằm nghiên cứu mặt cắt địa chất và đánh giá triển vọng dầu khí ở Đồng bằng sông Hồng.

Đi tìm dầu khí giữa những năm tháng chiến tranh
Lắp ráp máy khoan 4LD-150D trên nền khoan giếng GK-100 (Ảnh: Tư liệu lịch sử ngành Dầu khí Việt Nam).

Công trình là một thử thách lớn về tổ chức và kỹ thuật. Máy khoan 4LD-150D do Rumani sản xuất có khả năng khoan sâu 3.200m; bộ máy khoan nặng gần 1.000 tấn, cùng cần khoan, ống chống và vật tư thi công có tổng khối lượng hàng nghìn tấn. Tháp khoan cao 53m nổi bật giữa cánh đồng làng Khuốc.

Kỹ sư Đặng Của, khi đó là Đoàn phó Đoàn Khoan sâu 36S, phụ trách thi công GK-100. Đội khoan phải tính toán phương án vận chuyển, gia cố đường và tổ chức lắp dựng trong nhiều tháng. Các kíp làm việc liên tục ngày đêm, vừa đưa mũi khoan xuống sâu, vừa thu thập dữ liệu phục vụ nghiên cứu địa chất.

Nhưng chiến tranh tiếp tục đặt công trình trước những rủi ro. Trong hồi ức của mình, kỹ sư Đặng Của kể, Thái Bình tuy không phải vùng trọng điểm đánh phá, nhưng thường là nơi trút bom thừa trên đường trở về hạm đội 7 trên biển của Mỹ, nên bất kể ngày đêm đều có tiếng bom nổ trên các cánh đồng, khu dân cư. Có lần máy bay Mỹ ném bom chỉ cách giàn khoan 500m, nhưng may mắn không ảnh hưởng đến người và thiết bị.

Trước nguy cơ công trình bị đánh phá, việc tháo dỡ, sơ tán thiết bị trở thành nhiệm vụ cấp bách.

Ngày 10/6/1972, Tổng cục Địa chất quyết định ngừng thử vỉa để bảo vệ giếng khoan. Cán bộ, công nhân Việt Nam cùng chuyên gia Liên Xô khẩn trương tháo dỡ bộ máy khoan. Để hạ trục tời nặng 25 tấn, đội khoan sử dụng phương án phối hợp hai cần cẩu đặt trên xe ô tô KRAZ, mỗi chiếc có sức nâng 16 tấn.

Công việc tháo dỡ hoàn thành sớm hơn kế hoạch 10 ngày. Thiết bị được bố trí, ngụy trang và chuyển đến địa điểm sơ tán nhằm bảo đảm an toàn. Ngày 21/6/1972, Đoàn 36S được phép tiếp tục các công việc tại khoan trường, nhưng việc thử vỉa phải chờ điều kiện thuận lợi hơn.

Trước đó, GK-100 đã ghi những dấu mốc quan trọng về kỹ thuật. Ngày 28/9/1971, giếng đạt độ sâu 3.000m; đến ngày 5/12/1971, mũi khoan xuống tới 3.303m, vượt thiết kế ban đầu. Dù không tìm thấy tầng sinh dầu như kỳ vọng, công trình đã phát hiện tầng trầm tích mới Phong Châu và ghi nhận biểu hiện khí cháy không lớn, cung cấp thêm dữ liệu cho nghiên cứu địa chất Đồng bằng sông Hồng.

Quá trình thử vỉa tiếp tục trong những năm sau đó. Từ ngày 21 đến 26/8/1974, các kỹ sư Việt Nam tiến hành thử vỉa lần đầu ở độ sâu 3.073m nhưng không phát hiện khí và condensate. Công tác thử vỉa tại GK-100 kết thúc ngày 30/4/1975.

Từ máy khoan Zíp 150 tại Tam Hiệp đến công trình GK-100 sâu hơn 3.300m là bước tiến đáng kể về quy mô và kỹ thuật. Dù kết quả từng mũi khoan không phải lúc nào cũng như mong đợi, nhưng quá trình khảo sát, khoan thăm dò và phân tích dữ liệu đã tích lũy kinh nghiệm, tạo cơ sở khoa học cho những chương trình tiếp theo.

Đi tìm dầu khí giữa những năm tháng chiến tranh
Dòng khí phun tại giếng khoan Tiền Hải. (Ảnh: Tư liệu lịch sử ngành Dầu khí Việt Nam)

Ngày 18/3/1975, tại giếng khoan 61 ở Tiền Hải, Thái Bình, dòng khí công nghiệp đầu tiên ở miền Bắc Việt Nam được phát hiện. Đây là dấu mốc quan trọng của hành trình tìm kiếm dầu khí được triển khai từ đầu thập niên 1960, mở ra triển vọng sử dụng nguồn tài nguyên phục vụ phát triển đất nước.

Kỷ niệm 65 năm Ngày truyền thống PETROVIETNAM, nhìn lại những năm tháng ấy không chỉ để nhắc về gian khó, mà còn để thấy cách một ngành công nghiệp được đặt nền móng trong điều kiện hạn chế. Từ những người thợ giữ giàn khoan giữa bom đạn đến các kỹ sư tổ chức vận chuyển, lắp dựng và vận hành công trình quy mô lớn, mỗi thế hệ đều góp phần tích lũy tri thức và kinh nghiệm cho ngành.

Những người đi trước có thể chưa nhìn thấy hết thành quả của các thế hệ sau, nhưng sự bền bỉ của họ đã mở đường cho hành trình tìm kiếm, thăm dò và phát triển tài nguyên dầu khí Việt Nam.

Mỏ Bạch Hổ: Định danh Việt Nam trên bản đồ dầu khíMỏ Bạch Hổ: Định danh Việt Nam trên bản đồ dầu khí
Ký ức về người lính trong sách Lịch sử Dầu khí: Thế hệ hôm nay tự hào tiếp bước cha anhKý ức về người lính trong sách Lịch sử Dầu khí: Thế hệ hôm nay tự hào tiếp bước cha anh
Những bước đi đầu tiên trên hành trình tìm kiếm dầu khíNhững bước đi đầu tiên trên hành trình tìm kiếm dầu khí
Từ tư liệu gốc đến việc làm sáng tỏ những mốc son trong lịch sử ngành Dầu khí Việt NamTừ tư liệu gốc đến việc làm sáng tỏ những mốc son trong lịch sử ngành Dầu khí Việt Nam

Huy Tùng

DMCA.com Protection Status