TS Dư Văn Toán:

Cần khung thể chế đủ mạnh để tích hợp các ngành, kiểm soát rủi ro và tránh “bẫy” tăng trưởng nóng

07:56 | 07/05/2026

55 lượt xem
|
(PetroTimes) - TP Hồ Chí Minh đang đứng trước cơ hội hình thành một trục tăng trưởng mới dựa trên công nghiệp - năng lượng - dịch vụ kỹ thuật cao gắn với kinh tế biển. Trao đổi với PetroTimes, TS Dư Văn Toán (Viện Khoa học Khí tượng Thủy Văn, Môi trường và Biển - Bộ Nông nghiệp và Môi trường) cho rằng điểm nghẽn đang ở cách tổ chức không gian phát triển, chất lượng dữ liệu môi trường và khung thể chế đủ mạnh để tích hợp các ngành, kiểm soát rủi ro và tránh “bẫy” tăng trưởng nóng.
Cần khung thể chế đủ mạnh để tích hợp các ngành, kiểm soát rủi ro và tránh “bẫy"  tăng trưởng nóng
Theo TS Dư Văn Toán, TP Hồ Chí Minh không thiếu điều kiện để hình thành một trục công nghiệp - năng lượng - dịch vụ kỹ thuật cao, vấn đề là chúng ta đã nhìn nhận và khai thác đúng hay chưa.

PV: Trong bối cảnh TP Hồ Chí Minh mở rộng không gian phát triển gắn với kinh tế biển, theo ông, đâu là những lợi thế cốt lõi về tài nguyên - môi trường biển có thể trở thành nền tảng cho một trục công nghiệp - năng lượng mới?

TS Dư Văn Toán: Câu hỏi này rất quan trọng, bởi nó chạm đến một vấn đề cốt lõi: TP Hồ Chí Minh đang ở ngưỡng có thể bứt phá, nhưng bứt phá theo hướng nào và bằng nguồn lực nào thì cần nhìn nhận rất rõ.

Tôi cho rằng TP Hồ Chí Minh không thiếu điều kiện để hình thành một trục công nghiệp - năng lượng - dịch vụ kỹ thuật cao, vấn đề là chúng ta đã nhìn nhận và khai thác đúng hay chưa.

Lợi thế lớn nhất của TP Hồ Chí Minh không nằm ở bản thân địa giới hành chính, mà ở vị trí trung tâm của một không gian kinh tế biển rộng lớn, gắn với Bà Rịa - Vũng Tàu và toàn bộ vùng Đông Nam Bộ. Ở đó, chúng ta đã có một hệ sinh thái công nghiệp - năng lượng tương đối hoàn chỉnh, từ khai thác, chế biến đến dịch vụ kỹ thuật dầu khí, logistics và cảng biển.

Đặc biệt, nếu nhìn rộng hơn, không gian biển của TP Hồ Chí Minh không chỉ là vùng ven bờ Cần Giờ, mà còn kết nối với các không gian có giá trị sinh thái và chiến lược rất cao như khu dự trữ sinh quyển Cần Giờ và xa hơn là quần đảo Côn Sơn (Côn Đảo). Đây là những khu vực hội tụ nhiều tầng giá trị: hệ sinh thái biển đặc hữu với rạn san hô, thảm cỏ biển, khu Ramsar quốc tế; đồng thời gắn với di sản lịch sử - văn hóa và các yếu tố chủ quyền khi đường cơ sở lãnh hải quốc gia đi qua.

Chính sự kết hợp giữa tài nguyên sinh thái, vị trí địa chính trị và hạ tầng công nghiệp hiện hữu đã tạo ra một lợi thế kép. Một mặt, đó là nền tảng để phát triển các ngành năng lượng mới như điện gió ngoài khơi, LNG, dịch vụ kỹ thuật biển. Mặt khác, đây cũng là không gian lý tưởng để phát triển kinh tế xanh, đặc biệt là du lịch sinh thái biển chất lượng cao, gắn với bảo tồn và khai thác bền vững.

Nói cách khác, TP Hồ Chí Minh không chỉ có “nguồn năng lượng”, mà còn có “không gian tích hợp” - nơi có thể đồng thời phát triển công nghiệp, năng lượng, dịch vụ và kinh tế sinh thái. Đây là điểm khác biệt nếu so với nhiều địa phương chỉ có một trong các yếu tố này.

Tuy nhiên, tôi nhấn mạnh rằng, thách thức lớn nhất không phải là thiếu tiềm năng, mà là cách chúng ta tổ chức không gian phát triển và thiết kế thể chế. Nếu quy hoạch còn phân mảnh, nếu dữ liệu môi trường biển chưa đầy đủ, nếu thiếu cơ chế tích hợp giữa các ngành và giữa các địa phương trong vùng, thì rất khó hình thành một trục tăng trưởng thực sự.

Ngược lại, nếu làm tốt ba yếu tố: quy hoạch tích hợp, dữ liệu đầy đủ và thể chế đủ linh hoạt, TP Hồ Chí Minh hoàn toàn có thể hình thành một trục công nghiệp - năng lượng - dịch vụ biển hiện đại, đồng thời phát triển song hành kinh tế xanh, từ đó trở thành một cực tăng trưởng mới mang tính bền vững và dài hạn.

Cần khung thể chế đủ mạnh để tích hợp các ngành, kiểm soát rủi ro và tránh “bẫy"  tăng trưởng nóng
TP Hồ Chí Minh (Bà Rịa - Vũng Tàu cũ) sở hữu không gian biển lý tưởng để phát triển kinh tế xanh, đặc biệt là du lịch sinh thái biển chất lượng cao, gắn với bảo tồn và khai thác bền vững.

PV:TP Hồ Chí Minh đang đứng trước áp lực phát triển nhanh các dự án năng lượng và hạ tầng ven biển. Theo ông, những rủi ro môi trường lớn nhất nếu không kiểm soát tốt là gì, và bài học nào từ các mô hình quốc tế mà TP Hồ Chí Minh cần đặc biệt lưu ý?

TS Dư Văn Toán: Với TP Hồ Chí Minh và khu vực ven biển phía Nam, nếu phát triển ồ ạt các dự án năng lượng và hạ tầng mà thiếu nền tảng khoa học, tôi cho rằng có ba nhóm rủi ro môi trường lớn. Thứ nhất là xung đột không gian biển, khi các hoạt động như điện gió ngoài khơi, cảng biển, nuôi trồng thủy sản, giao thông hàng hải... chồng lấn lên nhau mà không có quy hoạch tích hợp. Thứ hai là suy thoái hệ sinh thái ven biển, đặc biệt là các hệ sinh thái nhạy cảm như rừng ngập mặn, bãi triều, vốn đóng vai trò như “lá chắn tự nhiên” trước biến đổi khí hậu. Và thứ ba là rủi ro tích lũy môi trường, tức là mỗi dự án riêng lẻ có thể đạt chuẩn, nhưng cộng hưởng lại sẽ tạo áp lực lớn lên môi trường nước, trầm tích và đa dạng sinh học.

Từ kinh nghiệm quốc tế, tôi cho rằng bài học quan trọng nhất là phải đi trước một bước về quy hoạch không gian biển và dữ liệu môi trường. Các quốc gia phát triển điện gió ngoài khơi như Na Uy, Đan Mạch hay Hàn Quốc đều xây dựng rất sớm hệ thống dữ liệu nền về hải dương học, môi trường, sinh thái, từ đó mới phân vùng phát triển. Họ không làm theo kiểu “có dự án rồi mới đánh giá”, mà là “có quy hoạch tổng thể rồi mới cấp phép dự án”.

Bài học tiếp theo là phải thiết lập cơ chế quản trị tích hợp, tức là không quản lý theo từng ngành riêng lẻ, mà điều phối thống nhất giữa năng lượng, tài nguyên biển, môi trường và giao thông.

Với TP Hồ Chí Minh, tôi cho rằng nếu muốn phát triển nhanh nhưng vẫn bền vững, thì cần kiên định một nguyên tắc: không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng ngắn hạn. Phát triển năng lượng biển là xu hướng tất yếu, nhưng phải dựa trên nền tảng khoa học, quy hoạch tích hợp và kiểm soát rủi ro ngay từ đầu.

PV: Các mô hình năng lượng như LNG, điện gió ngoài khơi, hydrogen... đều gắn chặt với không gian biển. Theo ông, điều kiện tiên quyết về quy hoạch và dữ liệu môi trường để triển khai hiệu quả các mô hình này tại TP Hồ Chí Minh là gì?

TS Dư Văn Toán: Đối với các mô hình năng lượng mới như LNG, điện gió ngoài khơi hay hydrogen, điểm chung là đều phụ thuộc rất lớn vào không gian biển. Vì vậy, điều kiện tiên quyết không phải là công nghệ, mà là quy hoạch và dữ liệu nền.

Trước hết, về quy hoạch, theo tôi cần chuyển từ tư duy quy hoạch đơn ngành sang quy hoạch không gian biển tích hợp. Nghĩa là phải xác định rõ khu vực nào ưu tiên cho năng lượng, khu vực nào cho giao thông hàng hải, khu vực nào cho bảo tồn sinh thái... để tránh xung đột ngay từ đầu. Nếu không làm được điều này, thì dù dự án có tốt đến đâu cũng sẽ gặp vướng mắc khi triển khai.

Thứ hai, về dữ liệu, đây là điểm yếu hiện nay. Các dự án điện gió ngoài khơi, LNG hay hydrogen đều cần hệ thống dữ liệu dài hạn về khí tượng, hải văn, địa chất đáy biển, dòng chảy, sinh thái... Nhưng hiện nay dữ liệu của chúng ta còn phân tán, thiếu đồng bộ và chưa đủ độ dài để phục vụ các quyết định đầu tư lớn. Nếu không có dữ liệu đủ tin cậy, thì rủi ro kỹ thuật và rủi ro tài chính sẽ rất cao.

Thứ ba, cần có một cơ chế chia sẻ và chuẩn hóa dữ liệu, để doanh nghiệp, cơ quan quản lý và nhà đầu tư cùng sử dụng trên một nền tảng thống nhất, thay vì mỗi bên tự thu thập theo cách riêng.

Từ kinh nghiệm quốc tế, các nước phát triển đều đầu tư rất sớm vào dữ liệu nền và coi đó là hạ tầng mềm của phát triển năng lượng biển. Với TP Hồ Chí Minh, nếu muốn đi nhanh vào các lĩnh vực này, thì phải đi trước một bước về quy hoạch tích hợp và xây dựng hệ thống dữ liệu môi trường biển đủ sâu, đủ dài và đủ tin cậy. Đây là điều kiện tiên quyết, chứ không phải là yếu tố đi sau.

Cần khung thể chế đủ mạnh để tích hợp các ngành, kiểm soát rủi ro và tránh “bẫy"  tăng trưởng nóng

TP Hồ Chí Minh cần kiên định với tư duy: phát triển dựa trên nền tảng khoa học và quản trị rủi ro, thay vì chạy theo tốc độ tăng trưởng đơn thuần.

PV: Thưa ông, hiện nay khung pháp lý về khai thác tài nguyên biển cho năng lượng vẫn còn phân tán. Theo ông, TP Hồ Chí Minh cần được trao thêm những cơ chế gì để vừa khai thác hiệu quả, vừa bảo đảm kiểm soát rủi ro môi trường?

TS Dư Văn Toán: Đúng là hiện nay khung pháp lý liên quan đến khai thác tài nguyên biển cho phát triển năng lượng còn khá phân tán, liên quan đến nhiều luật khác nhau như tài nguyên môi trường biển, năng lượng, đầu tư, đất đai... Điều này khiến quá trình triển khai dự án vừa kéo dài, vừa tiềm ẩn rủi ro do thiếu một cơ chế điều phối thống nhất.

Theo tôi, nếu TP Hồ Chí Minh muốn đi nhanh nhưng vẫn bảo đảm kiểm soát rủi ro, thì cần được trao một số cơ chế mang tính “tích hợp”.

Thứ nhất là cơ chế quy hoạch không gian biển tích hợp và có tính pháp lý cao, tức là cho phép TP Hồ Chí Minh chủ động phân vùng chức năng biển gắn với phát triển năng lượng, công nghiệp và bảo vệ môi trường, thay vì phụ thuộc hoàn toàn vào các quy hoạch ngành rời rạc.

Thứ hai là cơ chế một đầu mối quản lý và cấp phép, giúp rút ngắn quy trình, nhưng đồng thời vẫn bảo đảm kiểm soát chặt chẽ thông qua các tiêu chuẩn môi trường thống nhất. Hiện nay, việc một dự án phải đi qua nhiều cơ quan khác nhau không chỉ làm chậm tiến độ mà còn làm phân tán trách nhiệm.

Thứ ba là cơ chế thí điểm (sandbox) cho các mô hình năng lượng mới, như điện gió ngoài khơi, hydrogen... Trong khuôn khổ đó, TP Hồ Chí Minh có thể được trao quyền linh hoạt hơn về lựa chọn công nghệ, mô hình đầu tư, nhưng đi kèm với các tiêu chí giám sát môi trường rất rõ ràng.

Và cuối cùng, rất quan trọng, là cần có cơ chế bắt buộc về dữ liệu và đánh giá môi trường tích lũy, không chỉ đánh giá từng dự án riêng lẻ, mà đánh giá tổng thể tác động lên toàn bộ vùng biển.

Tôi cho rằng, nếu thiết kế được các cơ chế theo hướng tích hợp, minh bạch và dựa trên dữ liệu như vậy, TP Hồ Chí Minh hoàn toàn có thể vừa khai thác hiệu quả tài nguyên biển cho phát triển năng lượng, vừa kiểm soát tốt các rủi ro môi trường.

PV: Nếu phải đưa ra một nguyên tắc cốt lõi, theo ông, TP Hồ Chí Minh cần làm gì để không rơi vào “bẫy phát triển nóng”, mà vẫn duy trì được vai trò đầu tàu tăng trưởng trong giai đoạn tới?

TS Dư Văn Toán: Nếu phải đúc kết thành một nguyên tắc cốt lõi, tôi cho rằng TP Hồ Chí Minh cần kiên định với tư duy: phát triển dựa trên nền tảng khoa học và quản trị rủi ro, thay vì chạy theo tốc độ tăng trưởng đơn thuần.

Tức là, mọi quyết định phát triển, đặc biệt trong lĩnh vực năng lượng và không gian biển, phải dựa trên ba trụ cột: quy hoạch tích hợp - dữ liệu đầy đủ - kiểm soát rủi ro từ sớm. Nếu thiếu một trong ba yếu tố này, rất dễ rơi vào tình trạng phát triển nóng, dẫn đến hệ quả dài hạn cho môi trường và cấu trúc kinh tế.

Thực tế quốc tế cho thấy, những quốc gia phát triển bền vững đều không đánh đổi môi trường để lấy tăng trưởng ngắn hạn, mà coi môi trường là một phần của nền tảng phát triển. Với TP Hồ Chí Minh cũng vậy, nếu chỉ nhìn vào tốc độ mà bỏ qua sức chịu tải của hệ sinh thái, thì sẽ sớm “chạm trần”.

Ngược lại, nếu làm tốt quy hoạch không gian, đầu tư bài bản vào dữ liệu môi trường và thiết lập cơ chế giám sát hiệu quả, TP Hồ Chí Minh hoàn toàn có thể vừa duy trì vai trò đầu tàu tăng trưởng, vừa đi đầu trong mô hình phát triển bền vững gắn với kinh tế biển và năng lượng mới.

PV: Trân trọng cảm ơn ông!

Lực đẩy chuỗi năng lượng tại Bà Rịa - Vũng Tàu hướng tới mục tiêu Net ZeroLực đẩy chuỗi năng lượng tại Bà Rịa - Vũng Tàu hướng tới mục tiêu Net Zero
Xây dựng và phát triển Long Sơn trở thành Trung tâm công nghiệp năng lượng sinh thái xanh và hiện đạiXây dựng và phát triển Long Sơn trở thành Trung tâm công nghiệp năng lượng sinh thái xanh và hiện đại
Petrovietnam thúc đẩy hệ sinh thái khoa học - công nghệ và công nghiệp năng lượng khu vực Bà Rịa - Vũng TàuPetrovietnam thúc đẩy hệ sinh thái khoa học - công nghệ và công nghiệp năng lượng khu vực Bà Rịa - Vũng Tàu

Minh Tiến (thực hiện)

DMCA.com Protection Status