Muốn tăng trưởng hai con số, phải xây “sức đề kháng năng lượng”
Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu còn nhiều biến động, giá dầu tiếp tục là một trong những yếu tố tác động trực tiếp và mạnh mẽ đến lạm phát, tỷ giá, ngân sách và cấu trúc tăng trưởng.
Với Việt Nam - một nền kinh tế có độ mở cao, vừa xuất khẩu dầu thô, vừa phụ thuộc đáng kể vào nhập khẩu xăng dầu thành phẩm - tác động của giá dầu không chỉ thể hiện ở cán cân thương mại, mà còn lan tỏa tới thu ngân sách, hoạt động doanh nghiệp và diễn biến của thị trường tài chính.
Khi mục tiêu tăng trưởng GDP hai con số được đặt ra, thách thức không chỉ nằm ở việc mở rộng quy mô, mà còn ở khả năng duy trì đà tăng trưởng trong bối cảnh các yếu tố đầu vào, đặc biệt là năng lượng, liên tục biến động. Để làm rõ vấn đề này, phóng viên PetroTimes đã trao đổi với ông Nguyễn Quang Huy, CEO Khoa Tài chính - Ngân hàng, Trường Đại học Nguyễn Trãi.
![]() |
| Ông Nguyễn Quang Huy, CEO Khoa Tài chính - Ngân hàng, Trường Đại học Nguyễn Trãi |
PV: Thưa ông, giá dầu thế giới biến động mạnh tác động thế nào đến cán cân thương mại năng lượng của Việt Nam và qua đó gây áp lực ra sao tới tỷ giá USD/VND cũng như rủi ro lạm phát nhập khẩu?
Ông Nguyễn Quang Huy: Đặc trưng của Việt Nam là cấu trúc năng lượng “đan xen”: vừa xuất khẩu dầu thô, vừa nhập khẩu phần lớn xăng dầu thành phẩm. Chính đặc điểm này tạo ra một cơ chế tác động hai chiều nhưng không đối xứng.
Khi giá dầu tăng, giá trị xuất khẩu dầu thô cải thiện, song chi phí nhập khẩu xăng dầu - vốn gắn chặt với nhu cầu sản xuất và tiêu dùng lại gia tăng, khiến cán cân thương mại năng lượng chịu sức ép. Ngược lại, khi giá dầu giảm, lợi ích từ giảm chi phí đầu vào lan tỏa rộng hơn, giúp nền kinh tế được “giải phóng” chi phí.
Tác động tiếp theo là lên tỷ giá. Nhu cầu ngoại tệ để nhập khẩu năng lượng gia tăng tạo áp lực nhất định lên USD/VND, nhất là trong bối cảnh điều kiện tài chính toàn cầu còn thắt chặt dưới ảnh hưởng của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ. Đây là dạng áp lực “kép”: vừa từ thương mại, vừa từ dòng vốn.
Ở tầng sâu hơn, giá dầu kích hoạt cơ chế lạm phát chi phí đẩy. Khi chi phí vận tải, logistics và sản xuất đồng loạt tăng, áp lực giá lan tỏa theo chuỗi, hình thành kỳ vọng lạm phát. Với một nền kinh tế đang tăng trưởng nhanh, việc kiểm soát kỳ vọng này có ý nghĩa quyết định đối với ổn định vĩ mô.
PV: Bên cạnh câu chuyện cán cân thương mại, diễn biến giá dầu còn ảnh hưởng trực tiếp thế nào đến nguồn thu ngân sách, cân đối tài khóa và khả năng đầu tư của các doanh nghiệp năng lượng trọng yếu như Petrovietnam?
Ông Nguyễn Quang Huy: Giá dầu tăng thường mang lại “hiệu ứng thu ngân sách” trong ngắn hạn thông qua nguồn thu từ khai thác và thuế, phí liên quan. Tuy nhiên, lợi ích này mang tính tương đối.
Trong thực tế điều hành, để hạn chế tác động tiêu cực tới đời sống và sản xuất, Nhà nước thường phải điều chỉnh chính sách thuế, phí hoặc sử dụng các công cụ bình ổn. Điều đó đồng nghĩa với việc một phần nguồn thu tiềm năng được “trả lại” cho nền kinh tế dưới dạng hỗ trợ, làm thu hẹp dư địa tài khóa thực.
Ở cấp độ doanh nghiệp, đặc biệt với các tập đoàn năng lượng như Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam (Petrovietnam), tác động của giá dầu phân hóa theo chuỗi giá trị. Khai thác thượng nguồn hưởng lợi trực tiếp khi giá tăng, nhưng các khâu trung và hạ nguồn phụ thuộc nhiều vào biên lợi nhuận và hiệu quả vận hành.
Vì vậy, câu chuyện không nằm ở giá dầu cao hay thấp, mà ở năng lực quản trị chuỗi - khả năng tối ưu hóa giá trị trong mọi điều kiện thị trường.
PV: Nhìn rộng hơn ra thị trường tài chính, xu hướng giá dầu hiện nay sẽ tác động ra sao tới dòng tiền, đặc biệt là sự phân hóa giữa nhóm cổ phiếu năng lượng và các ngành sản xuất - tiêu dùng?
Ông Nguyễn Quang Huy: Giá dầu là một trong những “tín hiệu dẫn dắt” quan trọng đối với dòng tiền trên thị trường tài chính.
Khi giá dầu đi lên, nhóm cổ phiếu năng lượng thường trở thành điểm đến của dòng vốn nhờ kỳ vọng lợi nhuận cải thiện. Ngược lại, các ngành sản xuất, vận tải và tiêu dùng đối mặt với áp lực chi phí, khiến biên lợi nhuận bị co hẹp, tạo nên sự phân hóa rõ rệt.
Ở tầng vĩ mô hơn, giá dầu tăng làm gia tăng rủi ro lạm phát, qua đó ảnh hưởng đến quỹ đạo lãi suất và chi phí vốn. Khi chi phí vốn cao hơn, định giá tài sản, tài chính có xu hướng điều chỉnh, đặc biệt đối với các ngành phụ thuộc nhiều vào đòn bẩy tài chính.
Đồng thời, biến động mạnh của giá dầu thường gắn với bất ổn địa chính trị, khiến tâm lý thị trường chuyển sang trạng thái phòng thủ, làm thay đổi cấu trúc phân bổ tài sản.
PV: Về tầm nhìn dài hạn, Việt Nam cần những giải pháp đột phá nào trong cấu trúc năng lượng, chính sách tài khóa - tiền tệ và thị trường vốn để giảm thiểu sự lệ thuộc vào các cú sốc giá dầu, đồng thời duy trì mục tiêu tăng trưởng cao và bền vững?
![]() |
Ông Nguyễn Quang Huy: Để thoát khỏi trạng thái bị động trước các cú sốc giá dầu, Việt Nam cần một chiến lược mang tính kiến tạo, đồng bộ trên nhiều trục.
Trước hết là tái cấu trúc hệ năng lượng theo hướng đa trụ cột. Điện hạt nhân, nếu được triển khai với tiêu chuẩn công nghệ và an toàn cao, có thể đóng vai trò nguồn điện nền ổn định. Năng lượng tái tạo như điện mặt trời và điện gió cùng điện khí LNG giúp giảm phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch và phù hợp với xu thế chuyển đổi xanh toàn cầu. Cùng với đó, việc mở rộng và nâng cấp công suất lọc hóa dầu trong nước sẽ giúp gia tăng tính tự chủ nguồn cung.
Song song là quá trình chuyển đổi ở cấp độ vi mô. Doanh nghiệp cần tái cấu trúc dây chuyền sản xuất theo hướng tiết kiệm năng lượng, sử dụng nguồn năng lượng sạch; người dân thay đổi hành vi tiêu dùng theo hướng hiệu quả và bền vững hơn. Đây là nền tảng giúp giảm cường độ năng lượng của nền kinh tế.
Một trụ cột quan trọng khác là xây dựng hệ thống dự trữ xăng dầu dài ngày. Đây không chỉ là công cụ kỹ thuật, mà là “lớp đệm chiến lược” giúp nền kinh tế duy trì ổn định trước các cú sốc nguồn cung.
Về thể chế, cần tăng cường phối hợp chính sách. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đóng vai trò trung tâm trong điều hành tiền tệ, kiểm soát lạm phát và ổn định tỷ giá, trong khi chính sách tài khóa cần hướng tới hỗ trợ chuyển đổi năng lượng và đầu tư hạ tầng. Thị trường vốn, với các công cụ như trái phiếu xanh và sản phẩm phòng ngừa rủi ro giá hàng hóa, sẽ là kênh dẫn vốn dài hạn cho quá trình này.
PV: Trong bối cảnh giá năng lượng còn nhiều biến động khó lường, theo ông đâu là điểm cân bằng giữa kiểm soát lạm phát, ổn định vĩ mô và nỗ lực thúc đẩy tăng trưởng hai con số?
Ông Nguyễn Quang Huy: Trong điều kiện giá năng lượng biến động, bài toán điều hành không còn là lựa chọn tĩnh giữa kiểm soát lạm phát và thúc đẩy tăng trưởng, mà là quá trình tối ưu động theo chu kỳ.
Khi giá dầu tăng, ưu tiên là ổn định vĩ mô và kiểm soát lạm phát thông qua các công cụ tài khóa có mục tiêu, đồng thời duy trì môi trường tiền tệ đủ linh hoạt để không làm suy giảm động lực tăng trưởng. Khi giá dầu giảm, cần tận dụng “khoảng lặng chi phí” để thúc đẩy đầu tư, sản xuất và tiêu dùng, qua đó tái tạo dư địa chính sách.
Về dài hạn, điểm cân bằng bền vững chỉ đạt được khi nền kinh tế giảm dần độ phụ thuộc vào năng lượng hóa thạch, nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng và tăng cường khả năng hấp thụ cú sốc bên ngoài.
Giá dầu là một biến số ngoại sinh, nhưng mức độ tác động lại phụ thuộc vào nội lực cấu trúc của nền kinh tế. Khi Việt Nam từng bước hoàn thiện hệ thống năng lượng đa trụ cột, thúc đẩy chuyển đổi xanh, xây dựng dự trữ chiến lược và nâng cao hiệu quả phối hợp chính sách, nền kinh tế sẽ không còn bị động trước biến động bên ngoài.
Khi đó, mục tiêu tăng trưởng cao không còn dựa trên những điều kiện thuận lợi nhất thời, mà được neo giữ bởi một nền tảng vững chắc hơn: khả năng tự chủ, tính linh hoạt và tầm nhìn chiến lược dài hạn. Đây chính là “sức đề kháng năng lượng” - yếu tố quyết định chất lượng tăng trưởng trong giai đoạn phát triển mới.
PV: Xin cảm ơn ông!
Mạnh Tưởng (Thực hiện)


