Cần một chương riêng cho điện gió ngoài khơi
Điện gió ngoài khơi cần cách tiếp cận mới
Tại buổi làm việc giữa Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội với Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam (Petrovietnam) về dự án Luật Điện lực (sửa đổi) mới đây, nhiều đại biểu Quốc hội nhận định điện gió ngoài khơi (ĐGNK) đang đứng trước hàng loạt điểm nghẽn pháp lý cần được tháo gỡ ngay trong lần sửa luật này.
![]() |
| ĐGNK cần được nhìn nhận như một lĩnh vực phát triển chiến lược, đòi hỏi cơ chế pháp lý đủ rõ ràng và ổn định để triển khai các dự án quy mô lớn (Ảnh minh họa) |
Đại biểu Ngô Sỹ Cường cho rằng, ĐGNK cần được nhìn nhận như một lĩnh vực phát triển chiến lược, đòi hỏi cơ chế pháp lý đủ rõ ràng và ổn định để triển khai các dự án quy mô lớn. Theo ông, Việt Nam đang đặt mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số trong giai đoạn tới, vì vậy không thể để những điểm nghẽn về thể chế tiếp tục làm chậm quá trình phát triển các nguồn năng lượng mới.
![]() |
| ĐBQH Ngô Sỹ Cường |
Từ thực tiễn hoạt động của các doanh nghiệp năng lượng nhà nước, đại biểu cho rằng Petrovietnam có lợi thế đặc biệt trong lĩnh vực ngoài khơi sau nhiều thập niên tích lũy kinh nghiệm khảo sát, thi công và vận hành các công trình biển. Trong khi đó, Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) có thế mạnh về hệ thống truyền tải và vận hành lưới điện trên bờ. Vì vậy, cần nghiên cứu xây dựng một chương riêng về năng lượng tái tạo, đặc biệt là ĐGNK trong Luật Điện lực (sửa đổi), qua đó xác định rõ cơ chế, trách nhiệm và vai trò của từng doanh nghiệp trong toàn bộ chuỗi phát triển dự án, từ hạ tầng ngoài biển đến đấu nối và truyền tải điện vào đất liền.
Đại biểu Ngô Sỹ Cường cũng lưu ý, mặc dù các quy định liên quan còn chịu sự điều chỉnh của nhiều luật khác như Luật Biển Việt Nam, Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo hay Luật Bảo vệ môi trường, nhưng Luật Điện lực (sửa đổi) cần thiết lập được những nguyên tắc và cơ chế đủ rõ để các dự án ĐGNK có thể triển khai ngay trên thực tế, thay vì phải chờ quá trình sửa đổi đồng bộ của toàn bộ hệ thống pháp luật. Theo ông, việc sớm hoàn thiện hành lang pháp lý sẽ tạo điều kiện để hiện thực hóa các dự án ĐGNK đã được quy hoạch, đồng thời phát huy tối đa lợi thế của các doanh nghiệp trong nước đối với lĩnh vực năng lượng mới này.
Đồng quan điểm về yêu cầu hoàn thiện thể chế, đại biểu Lê Thanh Hoàn, đại diện Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội, cho rằng lần sửa đổi Luật Điện lực này cần đi xa hơn việc tháo gỡ các khó khăn trước mắt, phải tạo lập nền tảng pháp lý đủ vững cho việc tổ chức thực hiện và điều chỉnh các hoạt động phát triển ĐGNK trong dài hạn.
Theo đại biểu, trong bối cảnh nhiều quy định liên quan đang phân tán ở Luật Dầu khí, Luật Bảo vệ môi trường cùng một số văn bản pháp luật khác, dự thảo Luật Điện lực (sửa đổi) cần xác định rõ những nguyên tắc cốt lõi ngay trong luật, đồng thời giao Chính phủ quy định chi tiết các nội dung mang tính kỹ thuật và quá trình triển khai. Cách tiếp cận này vừa bảo đảm tính linh hoạt điều hành, vừa phù hợp với chủ trương đẩy mạnh phân cấp, phân quyền.
![]() |
| ĐBQH Lê Thanh Hoàn |
Đại biểu Lê Thanh Hoàn cũng đặc biệt lưu ý đến vấn đề thẩm quyền. Theo ông, dự thảo luật cần quy định rõ phạm vi, trách nhiệm và thẩm quyền của các cơ quan, doanh nghiệp được giao triển khai các dự án ĐGNK, bảo đảm thống nhất với Luật Dầu khí và các quy định pháp luật có liên quan. Đây không chỉ là cơ sở để các doanh nghiệp nhà nước chủ động thực hiện nhiệm vụ, mà còn góp phần hạn chế tình trạng chồng chéo, lúng túng trong tổ chức thực hiện.
Có thể thấy, dù tiếp cận từ những góc độ khác nhau, các ý kiến tại buổi làm việc đều gặp nhau ở một điểm chung: lần sửa đổi Luật Điện lực này cần tạo lập hành lang pháp lý đủ đầy cho ĐGNK. Nếu bỏ lỡ cơ hội hoàn thiện thể chế ngay từ thời điểm này, việc bổ sung, khắc phục những khoảng trống pháp lý trong tương lai sẽ khó khăn và tốn kém hơn rất nhiều.
Kiến tạo thể chế cho điện gió ngoài khơi
Trên một số diễn đàn của Quốc hội, đại biểu Nguyễn Hải Nam cũng nhiều lần phân tích sự cần thiết phải sớm hoàn thiện hành lang pháp lý cho ĐGNK. Theo đại biểu, Việt Nam hướng tới mục tiêu tăng trưởng kinh tế ở mức cao, nhu cầu điện sẽ tiếp tục tăng mạnh, trong khi ĐGNK có lợi thế về quy mô công suất lớn, khả năng phát điện tương đối ổn định và dư địa phát triển dài hạn. Vì vậy, nguồn điện mang tính bổ sung này đang trở thành một cấu phần quan trọng trong chiến lược bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia.
![]() |
| ĐBQH Nguyễn Hải Nam |
Tuy nhiên, đại biểu Nguyễn Hải Nam cho rằng quá trình phát triển ĐGNK hiện vẫn bị cản trở bởi nhiều nhóm vướng mắc pháp lý. Trước hết là sự thiếu đồng bộ giữa quy hoạch điện, quy hoạch không gian biển và các quy hoạch có liên quan, khiến dự án dù đã được xác định về định hướng phát triển nhưng vẫn thiếu cơ sở để triển khai trên thực tế. Bên cạnh đó, các quy định về giao và cho thuê khu vực biển phục vụ khảo sát, nghiên cứu, xây dựng dự án chưa đầy đủ; cơ chế giá điện dài hạn chưa rõ ràng; tiêu chí lựa chọn nhà đầu tư và thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư vẫn còn những điểm chưa thống nhất.
Theo đại biểu Nguyễn Hải Nam, đặc thù của ĐGNK là quy mô vốn rất lớn, thời gian chuẩn bị kéo dài, chi phí khảo sát cao và có sự tham gia của nhiều cơ quan quản lý. Do đó, nếu các thủ tục tiếp tục được điều chỉnh bởi những quy định phân tán, thiếu một đầu mối pháp lý thống nhất, nhà đầu tư sẽ khó xác định được lộ trình thực hiện cũng như khả năng thu hồi vốn. Điều này không chỉ làm chậm tiến độ các dự án mà còn ảnh hưởng đến khả năng thu hút những nhà đầu tư có năng lực tài chính, công nghệ và kinh nghiệm quốc tế.
Từ thực tế đó, đại biểu đề nghị phải tiếp cận ĐGNK bằng một khung chính sách tổng thể, trong đó xác định rõ không gian phát triển dự án, trình tự khảo sát, cơ chế giao khu vực biển, nguyên tắc lựa chọn nhà đầu tư và thẩm quyền phê duyệt. Cùng với đó, cần xây dựng cơ chế giá điện đủ ổn định, cạnh tranh và có khả năng chia sẻ rủi ro, tạo cơ sở cho nhà đầu tư huy động nguồn vốn dài hạn đối với các dự án có quy mô hàng tỉ USD.
Đại biểu Nguyễn Hải Nam cũng lưu ý, việc phát triển ĐGNK không thể tách rời quá trình hình thành chuỗi cung ứng trong nước. Vì vậy, chính sách pháp luật cần đồng thời tạo điều kiện phát triển hệ thống cảng biển, đội tàu chuyên dụng, cơ sở chế tạo thiết bị, dịch vụ khảo sát, lắp đặt, vận hành và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao. Khi đó, ĐGNK mới thực sự trở thành một ngành công nghiệp mới, thay vì chỉ dừng ở nhập khẩu thiết bị để xây dựng một số dự án phát điện riêng lẻ.
Những lập luận này tiếp tục củng cố quan điểm rằng ĐGNK cần được điều chỉnh bằng một khuôn khổ pháp lý đủ tập trung và đồng bộ. Một chương riêng trong Luật Điện lực (sửa đổi), nếu được thiết kế đầy đủ, có thể trở thành đầu mối kết nối các quy định về điện lực, đầu tư, biển, môi trường và lựa chọn nhà đầu tư, qua đó tạo nền tảng để các dự án sớm chuyển từ quy hoạch sang triển khai thực tế.
Ở góc độ khác, đại biểu Tạ Thị Yên (Đoàn Điện Biên) cho rằng cùng với việc hoàn thiện khung pháp lý, dự thảo Luật Điện lực (sửa đổi) cần thiết kế các cơ chế đủ linh hoạt để bảo đảm tính khả thi cho những dự án điện gió ngoài khơi đầu tiên.
![]() |
| ĐBQH Tạ Thị Yên |
Theo đại biểu, đây là lĩnh vực mới, đòi hỏi công nghệ cao, vốn đầu tư lớn và kinh nghiệm triển khai công trình biển. Vì vậy, cần cho phép doanh nghiệp nhà nước chủ động lựa chọn đối tác có năng lực về tài chính, công nghệ và kinh nghiệm quốc tế để cùng khảo sát, đầu tư và phát triển dự án. Cơ chế hợp tác này không chỉ giúp chia sẻ nguồn lực, kinh nghiệm quốc tế, mà còn góp phần giảm áp lực huy động vốn, chia sẻ rủi ro trong quá trình triển khai các dự án có quy mô đầu tư hàng tỉ USD. Đồng thời, khi doanh nghiệp nhà nước vẫn giữ vai trò chủ đạo trong dự án, yêu cầu về bảo đảm quốc phòng, an ninh và chủ quyền trên biển cũng tiếp tục được kiểm soát chặt chẽ.
Đại biểu Tạ Thị Yên cũng đặc biệt nhấn mạnh đến hoạt động khảo sát - khâu nền tảng nhưng nhiều rủi ro nhất của dự án. Theo phân tích của đại biểu, quá trình khảo sát có thể kéo dài 1-2 năm với chi phí lên tới hàng chục triệu USD. Tuy nhiên, theo quy định của dự thảo luật, toàn bộ dữ liệu khảo sát thuộc sở hữu Nhà nước, trong khi đơn vị thực hiện khảo sát vẫn phải tham gia đấu thầu cạnh tranh để được lựa chọn làm nhà đầu tư dự án. Điều này khiến doanh nghiệp khó mạnh dạn đầu tư nếu thiếu cơ chế bảo đảm quyền lợi.
Từ thực tế đó, đại biểu đề nghị nghiên cứu cơ chế khuyến khích nhà đầu tư tham gia khảo sát, như cộng điểm ưu tiên khi đấu thầu hoặc hoàn trả chi phí khảo sát nếu không được lựa chọn. Theo đại biểu, đây là giải pháp cần thiết để hài hòa giữa yêu cầu quản lý tài nguyên biển và thu hút doanh nghiệp tham gia hình thành nguồn dữ liệu phục vụ phát triển ngành ĐGNK.
Những kiến nghị này cho thấy, cùng với việc hoàn thiện hành lang pháp lý, Luật Điện lực (sửa đổi) cũng cần giải quyết hài hòa bài toán lợi ích và rủi ro của các chủ thể tham gia thị trường. Chỉ khi các doanh nghiệp có đủ niềm tin để đầu tư ngay từ giai đoạn khảo sát, các dự án ĐGNK mới có thể được triển khai đúng tiến độ và tạo động lực cho ngành công nghiệp năng lượng ngoài khơi phát triển bền vững.
Mở đường cho ngành công nghiệp năng lượng ngoài khơi
Theo TS Dư Văn Toán (Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn, Môi trường và Biển - Bộ Nông nghiệp và Môi trường) việc ĐGNK không được đưa vào phạm vi điều chỉnh của Luật Dầu khí càng đặt ra yêu cầu cấp thiết phải bổ sung đầy đủ các quy định về ĐGNK trong Luật Điện lực (sửa đổi). Nếu không, chúng ta sẽ đứng trước nguy cơ xuất hiện khoảng trống thể chế đối với một ngành công nghiệp năng lượng có ý nghĩa chiến lược trong nhiều thập niên tới.
![]() |
| TS Dư Văn Toán |
Có một điều cần lưu ý là không nên tiếp cận ĐGNK đơn thuần dưới góc độ phát điện. Đây là tư duy phù hợp với giai đoạn trước, còn trong bối cảnh chuyển dịch năng lượng hiện nay, ĐGNK đang trở thành nền tảng để hình thành các trung tâm năng lượng ngoài khơi tích hợp.
Điện tạo ra từ các turbine ngoài khơi có thể được truyền vào đất liền để hòa vào hệ thống điện quốc gia. Nhưng đó không phải là lựa chọn duy nhất. Trong nhiều trường hợp, nguồn điện này hoàn toàn có thể được sử dụng ngay tại chỗ để điện phân nước sản xuất hydrogen xanh, tiếp tục chế biến thành amoniac xanh hoặc các nhiên liệu sạch khác phục vụ xuất khẩu. Đây là xu hướng đang được nhiều quốc gia có tiềm năng gió ngoài khơi như Hà Lan, Đan Mạch, Anh, Australia hay các nước Trung Đông... nghiên cứu và triển khai.
Như vậy, ĐGNK không chỉ tạo ra điện mà còn tạo ra các sản phẩm năng lượng mới có giá trị gia tăng cao hơn rất nhiều. Điều này đồng nghĩa phạm vi điều chỉnh của pháp luật cũng cần thay đổi theo hướng rộng hơn. Nếu Luật Điện lực chỉ điều chỉnh hoạt động phát điện và truyền tải điện theo cách truyền thống thì sẽ rất khó bao quát các mô hình năng lượng tích hợp đang hình thành trên thế giới.
Theo TS Dư Văn Toán, đây cũng là thời điểm phù hợp để nghiên cứu xây dựng một chương riêng về ĐGNK trong Luật Điện lực (sửa đổi). Chương này không chỉ quy định về phát điện, đấu nối và vận hành hệ thống điện, mà còn đặt nền tảng pháp lý cho việc phát triển các trung tâm năng lượng ngoài khơi, cơ chế sử dụng điện tại chỗ để sản xuất hydrogen xanh, amoniac xanh, nhiên liệu tổng hợp; cơ chế sử dụng chung hạ tầng biển; chia sẻ cảng dịch vụ, căn cứ hậu cần, công trình ngoài khơi; cũng như tạo sự liên thông với Luật Dầu khí, Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo cùng các quy hoạch không gian biển.
![]() |
| Ngành dầu khí đã tích lũy được hệ thống cảng dịch vụ, căn cứ hậu cần, đội tàu chuyên dụng, năng lực khảo sát biển, thi công công trình ngoài khơi và đội ngũ kỹ sư có trình độ cao |
Đặc biệt, Việt Nam hiện không bắt đầu từ con số không. Sau hơn nửa thế kỷ phát triển, ngành dầu khí đã tích lũy được hệ thống cảng dịch vụ, căn cứ hậu cần, đội tàu chuyên dụng, năng lực khảo sát biển, thi công công trình ngoài khơi và đội ngũ kỹ sư có trình độ cao. Đây chính là nền tảng để phát triển ĐGNK với chi phí thấp hơn và tốc độ nhanh hơn nhiều quốc gia khác. Nếu khung pháp lý được hoàn thiện kịp thời, những nguồn lực này sẽ được chuyển hóa thành lợi thế cạnh tranh quốc gia trong chuỗi giá trị năng lượng sạch toàn cầu.
“Lần sửa đổi Luật Điện lực này không chỉ nhằm hoàn thiện khung pháp lý cho một loại hình nguồn điện mới, mà cần được nhìn nhận là cơ hội để Việt Nam xây dựng nền móng thể chế cho cả ngành công nghiệp năng lượng ngoài khơi. Nếu bỏ lỡ thời điểm này, chúng ta không chỉ chậm phát triển ĐGNK mà còn có nguy cơ đánh mất cơ hội tham gia chuỗi giá trị hydrogen xanh, amoniac xanh và các ngành năng lượng mới đang tăng trưởng rất nhanh trên thế giới”, TS Dư Văn Toán nhấn mạnh.
| ĐBQH Nguyễn Hải Nam: ĐGNK cần được điều chỉnh bằng một khuôn khổ pháp lý đủ tập trung và đồng bộ. Một chương riêng trong Luật Điện lực (sửa đổi), nếu được thiết kế đầy đủ, có thể trở thành đầu mối kết nối các quy định, qua đó tạo nền tảng để các dự án sớm chuyển từ quy hoạch sang triển khai thực tế. |
Minh Khang
-
ĐBQH Tạ Đình Thi: Cần thiết lập cơ chế khai thác hạ tầng dầu khí phục vụ phát triển kinh tế biển
-
ĐBQH Phan Đức Hiếu: Cần tận dụng tối đa nguồn lực, hạ tầng dầu khí cho phát triển năng lượng mới
-
ĐBQH Nguyễn Thị Thanh Bình: Hoàn thiện khung pháp lý để mở đường phát triển năng lượng ngoài khơi
-
Tích hợp năng lượng ngoài khơi: Cơ hội mới cho PVEP







