Sửa đổi Luật Dầu khí: Mở đường cho phát triển mỏ cận biên, nâng cao hệ số thu hồi dầu
![]() |
| TS. Phan Ngọc Trung: Dự thảo Luật Dầu khí 2022 (sửa đổi) cần tiếp tục được tối ưu hóa để thúc đẩy hoạt động tìm kiếm, thăm dò bằng khoa học công nghệ, tăng cường áp dụng các giải pháp nâng cao hiệu suất thu hồi dầu, phát triển mỏ cận biên, từ đó mở đường cho ngành dầu khí tiếp tục dẫn dắt và định hình tương lai địa năng lượng quốc gia. |
Tháo gỡ những “điểm nghẽn” từ thực tiễn
Nghị quyết 70-NQ/TW của Bộ Chính trị xác định bảo đảm an ninh năng lượng là nhiệm vụ chiến lược, trong đó dầu khí tiếp tục giữ vai trò là nguồn cung năng lượng sơ cấp đặc biệt quan trọng đối với ngân sách và cân đối vĩ mô. Hoạt động tìm kiếm, thăm dò và khai thác (E&P) chính là nền tảng quyết định mức độ tự chủ năng lượng quốc gia.
Ngành dầu khí Việt Nam hiện đang đối mặt với thách thức lớn khi phần lớn các mỏ chủ lực đã được khai thác trong thời gian dài. Nhiều mỏ ghi nhận mức suy giảm sản lượng tự nhiên từ 15-30% mỗi năm. Trong khi đó, các phát hiện mới ngày càng ít, điều kiện khai thác phức tạp và chi phí đầu tư cao hơn, yêu cầu kỹ thuật đặc thù và cơ chế PSC linh hoạt.
Trong bối cảnh các mỏ lớn suy giảm, việc thúc đẩy E&P tại các mỏ nhỏ, mỏ cận biên là yêu cầu cấp thiết để duy trì sản lượng và gia tăng trữ lượng. Dù quy mô từng mỏ nhỏ, vòng đời ngắn, nhưng tổng tiềm năng cộng gộp rất đáng kể, tạo vùng đệm vững chắc trong giai đoạn chuyển dịch năng lượng. Thêm vào đó, việc kết nối với hạ tầng sẵn có (FPSO, đường ống) giúp giảm mạnh chi phí đầu tư (CAPEX).
Theo TS. Phan Ngọc Trung, mặc dù Luật Dầu khí năm 2022 đã có nhiều đổi mới quan trọng, song thực tiễn triển khai cho thấy một số quy định về ưu đãi đầu tư chưa thực sự phát huy hiệu quả như kỳ vọng.
Một trong những bất cập lớn là việc xác định mỏ cận biên dựa trên chỉ tiêu tỷ suất hoàn vốn nội tại (IRR) tiệm cận dưới 10%. Đây là chỉ số chịu tác động mạnh của biến động giá dầu và chi phí đầu tư, khiến việc xác định đối tượng được hưởng ưu đãi gặp nhiều khó khăn.
Bên cạnh đó, đối với các dự án áp dụng công nghệ nâng cao hệ số thu hồi dầu, Luật Dầu khí 2022 mới dừng lại ở chủ trương khuyến khích chung mà chưa có cơ chế ưu đãi cụ thể. Điều này làm giảm động lực đầu tư vào các giải pháp công nghệ tiên tiến vốn đòi hỏi nguồn vốn lớn, thời gian thu hồi kéo dài và tiềm ẩn nhiều rủi ro kỹ thuật.
Trong bối cảnh các mỏ đang già hóa, nếu không có cơ chế đủ hấp dẫn để khuyến khích đầu tư bổ sung, sẽ rất khó khai thác hết lượng dầu khí còn lại trong lòng đất.
Để khơi thông nguồn lực, TS. Phan Ngọc Trung đề xuất 4 giải pháp đột phá: Hoàn thiện cơ chế PSC ưu đãi, linh hoạt và rút ngắn quy trình phê duyệt cho mỏ nhỏ; Thúc đẩy mô hình kết nối hạ tầng chung để tối ưu chi phí vận hành (OPEX); Thu hút nhà thầu quốc tế có kinh nghiệm địa chất phức tạp; Ứng dụng công nghệ số và giải pháp tăng cường thu hồi dầu (IOR/EOR).
Những điểm này đã được cụ thể hóa ở dự thảo Luật Dầu khí 2022 (sửa đổi). TS. Phan Ngọc Trung cho biết, dự thảo đã làm rõ khái niệm mỏ dầu khí cận biên và thiết kế khung chính sách ưu đãi riêng cho loại hình dự án này. Theo đó, mỏ cận biên được xác định là những mỏ có hiệu quả đầu tư tiệm cận dưới ngưỡng tối thiểu trong điều kiện kinh tế, kỹ thuật thông thường. Đây là các mỏ mà nếu áp dụng cơ chế hiện hành sẽ rất khó thu hút nhà đầu tư triển khai phát triển. Để giải quyết vấn đề này, dự thảo Luật đưa ra nhiều ưu đãi mang tính đột phá.
![]() |
| Các chính sách mới tại dự thảo Luật Dầu khí 2022 (sửa đổi) sẽ góp phần tạo điều kiện để những mỏ trước đây không đủ điều kiện phát triển thành các dự án có hiệu quả kinh tế, từ đó tránh lãng phí nguồn tài nguyên còn lại trong các khu vực đã có sẵn hạ tầng khai thác. |
Về chính sách thuế, nhà thầu được áp dụng mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp 25% cùng mức thuế xuất khẩu dầu thô chỉ 5% và mức thu hồi chi phí tối đa 80% sản lượng dầu khí khai thác được trong năm.
Về cơ chế tài chính, dự thảo cho phép tăng mức thu hồi chi phí thêm tối đa 10% so với hợp đồng dầu khí hiện hữu. Đây là yếu tố quan trọng giúp cải thiện hiệu quả đầu tư đối với các dự án có quy mô nhỏ hoặc điều kiện khai thác phức tạp.
Đặc biệt, sau khi hoàn thành nghĩa vụ thuế tài nguyên, nhà thầu được sử dụng toàn bộ phần dầu khí lãi để thu hồi chi phí và có thể được hưởng toàn bộ phần dầu khí lãi còn lại theo cơ chế ưu đãi đặc thù, kể từ thời điểm kế hoạch phát triển mỏ được phê duyệt và thực hiện nghĩa vụ thuế xuất khẩu (nếu có).
“Các chính sách này sẽ góp phần tạo điều kiện để những mỏ trước đây không đủ điều kiện phát triển thành các dự án có hiệu quả kinh tế, từ đó tránh lãng phí nguồn tài nguyên còn lại trong các khu vực đã có sẵn hạ tầng khai thác. Đây là cách tiếp cận phù hợp với thông lệ quốc tế, trên cơ sở hài hòa lợi ích giữa quyền lợi Nhà nước và nhà đầu tư, nhằm tận thu tối đa nguồn tài nguyên”, TS. Phan Ngọc Trung nhận định.
Tạo động lực mới cho hoạt động nâng cao hệ số thu hồi dầu
Cùng với chính sách cho mỏ cận biên, dự thảo Luật cũng đặc biệt chú trọng đến các hoạt động nâng cao hệ số thu hồi dầu (Enhanced Oil Recovery - EOR).
Theo TS. Phan Ngọc Trung, cơ quan chức năng cần xây dựng phương pháp xác định chính xác phần sản lượng EOR và khẳng định đây là nguồn lợi trực tiếp của nước chủ nhà. Do chi phí xác định phần tăng thu hồi này cũng như chi phí khai thác thực tế rất phức tạp, sự đồng thuận giữa nhà đầu tư và nước chủ nhà là yếu tố then chốt.
Việt Nam đã có tiền lệ thành công tại Lô 15-2 (mỏ Rạng Đông). Tại đây, Nhà nước đã chấp thuận kéo dài hợp đồng dầu khí với điều kiện bắt buộc nhà điều hành JVPC (Nhật Bản) phải triển khai giải pháp EOR. Thực tế chứng minh mô hình này mang lại lợi ích hài hòa cho cả hai bên, là bài học kinh nghiệm quý báu để nhân rộng.
Nhằm khuyến khích các dự án EOR, dự thảo Luật cho phép nhà thầu được tăng thêm mức thu hồi chi phí tối đa 10% so với hợp đồng hiện hành để bù đắp chi phí đầu tư công nghệ. Ngoài ra, thời hạn hợp đồng dầu khí có thể được gia hạn thêm tối đa 5 năm, tạo điều kiện cho nhà đầu tư có đủ thời gian triển khai dự án và thu hồi vốn.
Một điểm mới được TS. Phan Ngọc Trung đánh giá cao là cơ chế cho phép ký kết hợp đồng dầu khí mới trước khi hợp đồng hiện hữu kết thúc nhằm triển khai các chương trình đầu tư bổ sung để nâng cao hệ số thu hồi.
| "Các cơ chế ưu đãi mới trong dự thảo Luật Dầu khí 2022 (sửa đổi) là rất cần thiết, không nên được nhìn nhận đơn thuần là hỗ trợ cho doanh nghiệp hay nhà thầu dầu khí, mà cần được xem là công cụ để thực hiện mục tiêu lớn hơn là bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia. Cùng với các cơ chế ưu đãi mới, việc tăng cường phân cấp, phân quyền cho Petrovietnam trong công tác thẩm định và phê duyệt các kế hoạch phát triển mỏ sẽ giúp rút ngắn thời gian xử lý thủ tục, nâng cao tính chủ động trong quản lý và triển khai dự án. Dự thảo Luật Dầu khí 2022 (sửa đổi) cần tiếp tục được tối ưu hóa để thúc đẩy hoạt động tìm kiếm, thăm dò bằng khoa học công nghệ, tăng cường áp dụng các giải pháp nâng cao hiệu suất thu hồi dầu, phát triển mỏ cận biên, từ đó mở đường cho ngành dầu khí tiếp tục dẫn dắt và định hình tương lai địa năng lượng quốc gia". TS. Phan Ngọc Trung |
Phương Thảo
-
Petrovietnam nâng cao hiệu quả quản trị việc ban hành và tổ chức thực hiện nghị quyết
-
Petrovietnam đào tạo chuyên sâu về quản trị rủi ro tuân thủ
-
Petrovietnam ký kết các hợp đồng quan trọng, tạo động lực bảo đảm an ninh năng lượng và mục tiêu tăng trưởng "2 con số"
-
Dấu ấn tuổi trẻ Petrovietnam trên những công trình năng lượng trọng điểm


