Viết tiếp chặng đường khát vọng mới
1. Tổng cục Dầu mỏ và Khí đốt Việt Nam (tiền thân của Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam - PETROVIETNAM), được thành lập theo Quyết định số 170/CP ngày 3/9/1975. Từ những hoạt động ban đầu trong tìm kiếm, thăm dò và khai thác dầu khí, qua 51 năm, Tập đoàn từng bước hình thành chuỗi hoạt động gồm công nghiệp khí, điện, chế biến dầu khí, hóa dầu, phân bón và dịch vụ kỹ thuật chất lượng cao.
Và điều đáng nói là quá trình mở rộng đó gắn với những yêu cầu cụ thể của nền kinh tế qua từng thời kỳ. Khi đất nước cần nguồn lực cho phát triển, dầu khí trở thành một trong những nguồn thu quan trọng. Khi nhu cầu năng lượng tăng lên, PETROVIETNAM mở rộng sang khí và điện, bổ sung nguồn cung cho hệ thống. Khi yêu cầu nâng cao giá trị tài nguyên, chủ động hơn về sản phẩm thiết yếu và phát triển công nghiệp trong nước trở nên rõ hơn, Tập đoàn tiếp tục phát triển các lĩnh vực chế biến dầu khí, hóa dầu, phân bón và dịch vụ kỹ thuật chất lượng cao.
![]() |
| Qua 51 năm, PETROVIETNAM từng bước hình thành chuỗi hoạt động gồm công nghiệp khí, điện, chế biến dầu khí, hóa dầu, phân bón và dịch vụ kỹ thuật chất lượng cao. |
Vậy nên, hoạt động của PETROVIETNAM ngày càng gắn với nhiều ngành kinh tế và các cân đối lớn của đất nước. Đến cuối năm 2025, PETROVIETNAM có tổng tài sản hợp nhất hơn 1 triệu tỷ đồng, vốn chủ sở hữu trên 556 nghìn tỷ đồng; bình quân những năm gần đây đóng góp ngân sách khoảng 160 nghìn tỷ đồng/năm; có lợi nhuận cao nhất, khi giai đoạn 2020-2025 đạt tới 316 nghìn tỉ đồng, tương đương bình quân 2,2 tỉ USD/năm.
PETROVIETNAM cũng là doanh nghiệp duy nhất đạt và đạt nhiều giải thưởng cao quý về khoa học - công nghệ, trong đó có 6 Giải thưởng Hồ Chí Minh và 4 Giải thưởng Nhà nước, cùng nhiều sáng chế quốc tế uy tín. Đặc biệt, là doanh nghiệp dẫn đầu đạt mức cao nhất trong hoạt động an sinh xã hội, chỉ riêng giai đoạn 2020-2025 đã dành hơn 5,13 nghìn tỉ đồng cho các chương trình cộng đồng.
![]() |
| Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc tham quan không gian trưng bày hình ảnh, thành tựu nổi bật của PETROVIETNAM. |
6 tháng đầu năm 2026, tổng doanh thu toàn Tập đoàn ước đạt 734,7 nghìn tỷ đồng, tăng 49% so với cùng kỳ; doanh thu hợp nhất đạt 445,4 nghìn tỷ đồng, tăng 39% và vượt 22% kế hoạch; nộp ngân sách ước đạt 88,9 nghìn tỷ đồng, tăng 27%. Sản lượng khai thác đạt gần 8,7 triệu tấn dầu quy đổi, tăng 11,4%; gia tăng trữ lượng đạt 8,3 triệu tấn dầu quy đổi. Sản lượng điện đạt 20,46 tỷ kWh, tăng 23,1%.
| “Với quy mô hiện nay của PETROVIETNAM, chỉ cần Tập đoàn tăng trưởng thêm 1% cũng tạo ra giá trị rất lớn đối với tăng trưởng chung của nền kinh tế. Vì vậy, Tập đoàn cần xây dựng chương trình hành động cụ thể, cá thể hóa trách nhiệm đến từng cấp quản lý, từng đơn vị, từng cá nhân; theo dõi tiến độ theo tuần, theo tháng để bảo đảm hoàn thành các mục tiêu đã đề ra”. Đồng chí Phạm Gia Túc Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ |
Những con số này phản ánh không chỉ quy mô mà cả khả năng duy trì năng lực sản xuất của PETROVIETNAM trong bối cảnh nhiều lĩnh vực cốt lõi đang chịu sức ép từ biến động thị trường và xu hướng suy giảm tự nhiên của một số mỏ chủ lực. Đồng thời, đó cũng là cơ sở để nhìn nhận vai trò của Tập đoàn trong bảo đảm nguồn năng lượng, nhiên liệu và vật tư thiết yếu cho nền kinh tế.
2. Đất nước đang hướng tới tốc độ tăng trưởng cao hơn, nâng năng suất, sức cạnh tranh và khả năng tự chủ của nền kinh tế. Trong khi đó, thị trường năng lượng biến động nhanh, chuyển dịch năng lượng diễn ra mạnh, cạnh tranh công nghệ ngày càng gay gắt và các chuỗi cung ứng toàn cầu liên tục thay đổi.
Với quy mô và tầm vóc hiện có, bài toán đặt ra cho PETROVIETNAM trong giai đoạn tới sẽ thách thức hơn nhiều. Đó là Tập đoàn cần tiếp tục nâng cao năng lực của một tập đoàn công nghiệp - năng lượng quốc gia. Quy mô phải đáp ứng yêu cầu triển khai các dự án lớn; năng lực tài chính, công nghệ và quản trị phải đủ sức cạnh tranh trong khu vực và từng bước vươn ra quốc tế. Nguồn lực cần được tập trung vào những lĩnh vực có khả năng tạo giá trị lâu dài, gắn với an ninh năng lượng và yêu cầu phát triển của đất nước.
Nghị quyết số 79-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước đặt mục tiêu đến năm 2030 có 50 doanh nghiệp nhà nước vào Top 500 doanh nghiệp lớn nhất Đông Nam Á, 1-3 doanh nghiệp vào Top 500 doanh nghiệp lớn nhất thế giới; 100% tập đoàn, tổng công ty nhà nước áp dụng các nguyên tắc quản trị theo chuẩn mực OECD.
![]() |
| Nghị quyết số 79-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước đặt mục tiêu 100% tập đoàn, tổng công ty nhà nước áp dụng các nguyên tắc quản trị theo chuẩn mực OECD. |
Đối với PETROVIETNAM, yêu cầu này trước hết nằm ở năng lực thực hiện những dự án có quy mô lớn, vốn đầu tư dài hạn và tác động đến nhiều ngành. Quy mô doanh nghiệp chỉ có ý nghĩa khi đi cùng hiệu quả sử dụng vốn, chất lượng quản trị và khả năng tạo ra năng lực sản xuất mới.
Điều này cũng đặt ra yêu cầu nâng cao giá trị trong từng khâu của chuỗi dầu khí - năng lượng. Tài nguyên cần được khai thác hiệu quả, chế biến sâu hơn; các dự án phải tăng hàm lượng công nghệ và tạo liên kết với doanh nghiệp trong nước.
Một dự án năng lượng không chỉ tạo ra sản phẩm của dự án. Nó còn kéo theo nhu cầu về cơ khí, xây dựng, vận tải, logistics, tài chính và dịch vụ kỹ thuật. Nếu doanh nghiệp Việt Nam tham gia được nhiều hơn vào các khâu này, tác động của một dự án sẽ vượt ra ngoài phạm vi của riêng PETROVIETNAM.
Trong đó, bảo đảm an ninh năng lượng vẫn là nhiệm vụ trực tiếp. Điện, khí và nhiên liệu là đầu vào của sản xuất, hạ tầng và đời sống. Các lĩnh vực mới như công nghệ cao, trung tâm dữ liệu hay sản xuất xanh cũng đòi hỏi nguồn cung điện ổn định và hạ tầng năng lượng phù hợp.
![]() |
| Theo định hướng tại Nghị quyết số 70-NQ/TW, PETROVIETNAM cần tiếp tục phát triển các lĩnh vực khí, điện, chế biến dầu khí. |
Theo định hướng tại Nghị quyết số 70-NQ/TW, PETROVIETNAM cần tiếp tục phát triển các lĩnh vực khí, điện, chế biến dầu khí; đồng thời nghiên cứu, tham gia phù hợp vào các lĩnh vực năng lượng mới, thu hồi và lưu trữ carbon và các ngành công nghiệp có hàm lượng công nghệ cao.
Công nghệ sẽ là một yếu tố quyết định khả năng phát triển trong những lĩnh vực này. Với PETROVIETNAM, yêu cầu về khoa học, công nghệ và chuyển đổi số gắn trực tiếp với hoạt động sản xuất, từ thăm dò, khai thác ở những khu vực có điều kiện phức tạp đến chế biến, vận hành các công trình năng lượng.
Theo tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW, việc nghiên cứu, ứng dụng và làm chủ công nghệ cần gắn với xây dựng đội ngũ nhân lực có chuyên môn sâu, nâng cao năng suất, kiểm soát chi phí và bảo đảm an toàn trong vận hành.
Hội nhập quốc tế cũng trở thành một phần của quá trình nâng cao năng lực cạnh tranh. Nghị quyết số 59-NQ/TW đặt yêu cầu doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào các chuỗi giá trị toàn cầu. Với PETROVIETNAM, điều đó gắn với mở rộng hợp tác, tiếp cận công nghệ, vốn và thị trường, đồng thời nâng cao năng lực quản trị và chất lượng nguồn nhân lực.
Một điều kiện khác là thể chế. Các dự án dầu khí, năng lượng và công nghiệp thường có vốn đầu tư lớn, thời gian thực hiện dài và liên quan đến nhiều lĩnh vực quản lý. Quy định rõ ràng, ổn định và đồng bộ sẽ giúp giảm thời gian chuẩn bị, tăng tính chủ động của doanh nghiệp và đưa nguồn lực vào sản xuất sớm hơn. Đây là một trong những nội dung được đặt ra tại Nghị quyết số 66-NQ/TW về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật.
![]() |
| Nhà máy điện LNG Nhơn Trạch 3 và Nhơn Trạch 4. |
Bên cạnh đó, PETROVIETNAM có thể tạo thêm không gian cho doanh nghiệp tư nhân thông qua chuỗi cung ứng. Theo tinh thần Nghị quyết số 68-NQ/TW, việc mở rộng sự tham gia của doanh nghiệp trong nước vào các dự án, cung cấp thiết bị, dịch vụ và công nghiệp hỗ trợ vừa giúp Tập đoàn có thêm nhà cung cấp, vừa tạo thị trường và tích lũy năng lực cho khu vực doanh nghiệp tư nhân.
Nhìn tổng thể, các nghị quyết chiến lược của Đảng đặt ra những yêu phát triển, nâng cao năng lực thực hiện đối với của PETROVIETNAM. Trong đó, quản trị có ý nghĩa quyết định đối với khả năng sử dụng hiệu quả nguồn lực. Các quyết định đầu tư cần dựa trên hiệu quả và quản trị rủi ro; vốn được phân bổ phù hợp với chiến lược; tài sản, công nghệ, nhân lực và chuỗi cung ứng được quản lý chặt chẽ hơn. Năng lực chuẩn bị và thực hiện các dự án lớn cũng cần được nâng lên tương ứng.
3. Sau 51 năm, PETROVIETNAM đã tích lũy được một quy mô nguồn lực, kinh nghiệm và năng lực công nghệ đáng kể. Đây là kết quả của nhiều thế hệ người lao động và của quá trình phát triển gắn với những yêu cầu cụ thể của đất nước.
![]() |
| Chế tạo chân đế điện gió ngoài khơi tại Trung tâm Công nghiệp Năng lượng và Hậu cần Kỹ thuật PTSC. |
Giai đoạn tới sẽ đặt ra một yêu cầu khác: chuyển những nguồn lực đã tích lũy thành năng lực phát triển mới. Đó là khả năng thực hiện các dự án lớn hơn, nâng cao tỷ trọng chế biến và công nghệ, phát triển chuỗi cung ứng trong nước và tham gia sâu hơn vào các chuỗi giá trị khu vực, quốc tế.
Nhìn từ bên ngoài, ý nghĩa của một PETROVIETNAM lớn hơn vì thế không chỉ nằm ở doanh thu, tài sản hay thứ hạng. Quan trọng hơn là khả năng tạo thêm năng lực cho nền kinh tế: thêm nguồn năng lượng, thêm công suất công nghiệp, thêm công nghệ, thêm thị trường cho doanh nghiệp trong nước.
51 năm là một dấu mốc của quá trình đã qua. Còn giá trị của chặng đường tiếp theo sẽ được quyết định bởi những gì PETROVIETNAM có thể tạo ra từ nguồn lực hiện có và mức độ đáp ứng những yêu cầu mới của nền kinh tế.
Đó là một chặng đường mà quy mô phải đi cùng hiệu quả, năng lực phải đi cùng quản trị và sự phát triển của Tập đoàn phải gắn với những giá trị cụ thể đối với nền kinh tế.
Hà Lê






